
Từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015, BSCKII. Nguyễn Hữu Châu – Trung tâm Nội tiết tỉnh Khánh Hòa cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Thực trạng Kiến thức – Thái độ - Thực hành về bệnh ung thư vú ở phụ nữ 20-60 tuổi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Nghiên cứu có sự tình nguyện tham gia của 1.200 phụ nữ, TP. Nha Trang có 360 người, Cam Lâm có 200 người, Diên Khánh 160 người, Vạn Ninh 160 người, Cam Ranh có 120 người, Ninh Hòa có 120 người, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh mỗi huyện có 40 người tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy dân tộc Kinh chiếm gần 96%, đa phần sinh sống tại tỉnh Khánh Hòa hơn 20 năm; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 40,2; trình độ học vấn Trung học cơ sở chiếm gần 40%; công việc nội trợ chiếm gần 32%; nông dân chiếm hơn 1/5, buôn bán chiếm hơn 1/5. Thu nhập trung bình đa số là 2-4 triệu đồng/tháng; 84% đã có gia đình; tỷ lệ từ 2 con trở lên chiếm gần 75%. Đáng chú ý là có đến 91% đối tượng tham gia nghiên cứu đã từng nghe thông tin truyền thông về bệnh ung thư vú; trong đó tỷ lệ qua kênh truyền hình chiếm 86%, báo chí 35%, qua cán bộ y tế chiếm gần 52%, bạn bè người thân 44,6%, tỷ lệ qua internet chiếm gần 15%.
Theo BS. Châu, trong nước thời gian qua có nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu tương tự, cụ thể năm 2015 Hà Thị Mỹ Dung, Nguyễn Khoa Nguyên có nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh ung thư vú của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”; Tác giả Mai Trọng Khoa cùng đồng nghiệp tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả tư vấn, khám sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú ở nữ giới tại Hà Tĩnh năm 2014”; Tác giả Hoàng Quốc Phương cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu “Thực hành tự khám vú và kết quả khám sàng lọc ung thư vú của phụ nữ tại TP. Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ năm 2014”; Tác giả Nguyễn Thị Như Tú cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh ung thư vú của phụ nữ tỉnh Bình Định năm 2010”.
Tại tỉnh Khánh Hòa, năm 1999, BS. Nguyễn Ngọc Hiền đã tiến hành nghiên cứu “Tình hình ung thư vú trong phụ nữ tỉnh Khánh Hòa qua điều tra bằng siêu âm chẩn đoán”.
Kết quả nghiên cứu của BS. Nguyễn Hữu Châu cho thấy có gần 92% đối tượng nghiên cứu đồng ý quan điểm cho rằng ung thư vú là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ, cao hơn gấp 2 lần so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định năm 2010 với 772 đối tượng tham gia nghiên cứu cũng là nữ giới. Ngoài ra nghiên cứu của BS. Châu còn cho thấy hơn ¾ đối tượng nghiên cứu đồng ý ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với phụ nữ chết vì ung thư nói chung; tuy nhiên tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đồng ý phụ nữ dưới 30 tuổi dễ mắc ung thư vú cao đến gần 60%. Đối với quan điểm cho rằng ung thư vú phần lớn là do di truyền từ mẹ hoặc chị em gái nghiên cứu của BS. Châu cho tỷ lệ gần 60%; cao gấp 2 lần so với một nghiên cứu tiến hành tại TP. Cần Thơ năm 2009 của tác giả Nguyễn Văn Qui; cao gấp 6 lần so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú tại Bình Định.
45% đối tượng nghiên cứu BS. Châu cho rằng hút thuốc lá, uống rượu có khả năng gây bệnh ung thư vú; 40% đồng ý mãn kinh sau tuổi 55 là một trong những yếu tố nguy cơ; chỉ có 33% đối tượng nghiên cứu cho rằng phụ nữ thừa cân béo phì không liên quan đến nguy cơ ung thư vú, tỷ lệ này chỉ bằng 1/3 so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú - Bình Định là 98%.
Nghiên cứu của BS. Châu về triệu chứng, dấu hiệu của bệnh ung thư vú cho thấy đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng chiếm tỷ lệ 60,5%, cao hơn 2,5 lần so với nghiên cứu của Hà Thị Mỹ Dung, nghiên cứu trên 385 phụ nữ tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu của BS. Châu về phụ nữ biết xuất hiện khối u ở vú là một trong những dấu hiệu của bệnh ung thư vú có tỷ lệ gần 92% cao gần gấp đôi so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định.
Nghiên cứu của BS. Châu về kiến thức tự khám vú giúp phát hiện ung thư vú có tỷ lệ gần 85%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định tỷ lệ này là 55,4%. Tương tự đối với tỷ lệ kiến thức cho rằng chụp nhũ ảnh giúp phát hiện chẩn đoán ung thư vú tỷ lệ nghiên cứu của BS. Châu là 84% cao gấp 2 lần so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú chỉ là 40,4%.
Qua 35 câu hỏi nghiên cứu về kiến thức bệnh ung thư vú BS. Châu đã cho thấy kiến thức của đối tượng nghiên cứu phụ nữ tỉnh Khánh Hòa độ tuổi 20-60 tốt hơn so với các nghiên cứu đã được tiến hành tại Bình Định (2010), Nguyễn Văn Qui tại Cần Thơ (2009), Hà Thị Mỹ Dung tại Thừa Thiên Huế (2015). Điểm kiến thức đạt từ 50% số câu hỏi trở lên nghiên cứu của BS. Châu đạt đến 75%.
Đối với phần nghiên cứu về thái độ đối với bệnh ung thư vú, nghiên cứu của BS. Châu về tỷ lệ xem ung thư vú là bệnh nan y, sớm hay muộn điều trị cũng vậy là 21,1% cao gấp 2 lần so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú là 12%; tuy nhiên với niềm tin phát hiện bệnh ung thư vú sớm, điều trị đúng sẽ chữa khỏi bệnh nghiên cứu của BS. Châu đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ là 90% cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú chỉ là gần 63%.
Đối với phần nghiên cứu về thực hành đối với bệnh ung thư vú, đối tượng nghiên cứu của BS. Châu cho thấy tỷ lệ tự khám vú hàng ngày là 49,5%, cao gấp 2 lần so với nghiên cứu của Hoàng Quốc Phương tại 4 thành phố Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ năm 2014 là 24,2%; cao gấp 3 lần so với nghiên cứu của Hà Thị Mỹ Dung tại Thừa Thiên Huế năm 2015 (13,5%); và cũng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Tú tại Bình Định (20,6%).
Nghiên cứu của BS. Châu cũng cho thấy có gần 38% đối tượng nghiên cứu đã từng khám lâm sàng chuyên khoa vú, trong đó có 54,5% khám cách đây dưới 12 tháng; 31,3% đã sử dụng dịch vụ siêu âm vú; 6,4% sử dụng dịch vụ chụp nhũ ảnh để tầm soát ung thư vú.
Đối với cơ sở y tế được đối tượng nghiên cứu lựa chọn phần lớn là y tế của nhà nước và y tế tư trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó Trung tâm Chăm sóc SKSS được chọn để thực hiện dịch vụ siêu âm vú có tỷ lệ cao nhất là 46%; Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa được chọn để sử dụng dịch vụ chụp nhũ ảnh có tỷ lệ cao nhất chiếm 60%; đối tượng nghiên cứu sử dụng kỹ thuật tầm soát chụp nhũ ảnh không phải trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa chiếm tỷ lệ 32%.
BS. Châu đánh giá nếu tỷ lệ đạt được đúng 12/12 câu hỏi liên quan thực hành phòng chống ung thư vú kết quả cho thấy là 0,8%, tuy nhiên nếu trả lời đúng từ 50% câu hỏi trở lên tỷ lệ này là 97%.
Thành Long