Theo các chuyên gia, carbohydrat là thành phần chính của chế độ ăn và sau khi ăn sẽ làm tăng đường máu.
Chỉ số Glycemic Index (GI) là chỉ số phân loại thực phẩm theo lượng carbohydrat. Giá trị của GI là từ 0 đến 100. Thực phẩm có GI cao là những thực phẩm được tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa nhanh dẫn đến tăng rõ rệt đường huyết sau ăn. Thực phẩm có GI thấp tạo ra sự biến đổi nhỏ về đường huyết và Insuline sau ăn, có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Các thực phẩm có GI cao là bánh mì trắng, gạo trắng, pizza và đường. Thực phẩm GI cao gây đường huyết cao, tăng tổng số Insuline/glucagon, sau đó gây hạ đường huyết, tiết ra các hormone điều hòa và tăng nồng độ axit béo tự do, thúc đẩy hạ đường huyết và giảm HDL-C. Người mắc hội chứng chuyển hóa và rối loạn lipit máu, các quá trình bất lợi này diễn ra mạnh mẽ hơn. Nên tránh sử dụng quá nhiều fructose trong chế độ ăn, ví dụ siro ngô có hàm lượng này cao.
Lượng carbohydrat trong chế độ ăn cần thận trọng đối với bệnh nhân mắc rối loạn lipit máu. Người bệnh nên ăn các loại thực phẩm có GI thấp, hàm lượng chất xơ cao như ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, rau quả và các loại đậu.
Đối với natri có trong muối, chế độ ăn giảm muối (DASH) sẽ có tác dụng giữa mức natri ăn vào và mức huyết áp tâm thu. Ăn bớt 1g muối/ngày làm giảm 3,1mmHg huyết áp tâm thu ở bệnh nhân tăng huyết áp và 1,6mmHg ở người không tăng huyết áp. Lượng muối tối đa khuyến cáo là 5g/ngày/mỗi người. Ăn giảm muối là một cách quan trọng để phòng ngừa bệnh tim mạch và biến cố đột quỵ.
Theo các chuyên gia, trung bình 80% lượng muối từ thực phẩm chế biến sẵn, chỉ có 20% lượng muối ăn vào là do thêm vào khi nấu nướng hoặc khi ăn. Vì vậy chúng ta nên hạn chế ăn thực phẩm chế biến sẵn; khi nấu, chế biến cần giảm lượng muối.
Ăn kali giúp giảm huyết áp. Các nguồn cung cấp chính kali là trái cây, rau quả. Khi ăn tăng kali sẽ giúp giảm 24% nguy cơ đột quỵ.
Khi tăng chất xơ sẽ làm giảm cholesterol toàn phần, LDL-C và nguy cơ biến cố mạch vành. Kết quả nghiên cứu cho thấy ăn nhiều hơn 7g tổng các chất xơ /ngày làm giảm 9% nguy cơ bệnh động mạch vành; nếu ăn nhiều hơn 10g tổng các chất xơ /ngày giúp giảm 16% nguy cơ đột quỵ và 6% nguy cơ đái tháo đường tuýp 2. Ăn nhiều chất xơ giúp giảm tình trạng tăng đường huyết sau ăn, giảm mức cholesterol toàn phần và LDL-C. Lượng chất xơ tiêu thụ hàng ngày khuyến cáo là từ 5-15g chất xơ hòa tan.
Đối với trái cây, rau quả, ăn mỗi ngày 77g trái cây hoặc 80g rau giúp giảm 4% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch. Một nghiên cứu khác cho thấy, ăn 300g rau, trái cây mỗi ngày giúp giảm 11% nguy cơ đột quỵ; ăn trên 400g rau, quả mỗi ngày giúp giảm 26% nguy cơ đột quỵ so với ăn dưới 240g/ngày.
Nghiên cứu cũng báo cáo ăn 30g hạt mỗi ngày giúp giảm 30% nguy cơ bệnh tim mạch, tuy nhiên cần chú ý mức năng lượng của các loại hạt là rất cao.
Đối với ăn cá, ăn 1 lần/tuần đã giúp giảm 16% nguy cơ bệnh tim mạch. Ăn cá 2-4 lần/tuần giúp giảm 6% nguy cơ đột quỵ so với ăn ít hơn 1 lần/tuần. Người không ăn cá hoặc ăn quá ít nguy cơ bệnh tim mạch tăng rõ rệt. Đối với dầu cá, thử nghiệm bổ sung 400-1000g EPA/DHA/ngày ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim/có bệnh mạch vành đều không có thêm lợi ích trong phòng ngừa tái phát biến cố tim mạch.
Đối với nước ngọt và đường, ở trẻ em thanh thiếu niên, đồ uống chiếm 10-15% lượng calo tiêu thụ. Tiêu thụ nước ngọt thường xuyên liên quan đến thừa cân, hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường tuýp 2. Các đồ uống có đường nhân tạo không liên quan đến bệnh mạch vành. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo, mức tiêu thụ tối đa không quá 10% năng lượng từ đường (đường đơn và đường sacarose), trong đó gồm cả đường ăn thêm bên ngoài bữa ăn, đường trái cây và nước ép trái cây.
Các thực phẩm chức năng có chứa phytosterol (sterol và stanol thực vật) có tác dụng giảm LDL-C (giảm 10% với liều phytosterol 2g/ngày), hiệu quả giảm cholesterol tăng thêm khi bổ sung thực phẩm này vào chế độ ăn kiêng ít chất béo hoặc điều trị bằng statin.
Cả thừa cân và béo phì đều liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch. Ở người già cân nặng mức BMI càng ở mức cao hơn người trẻ và người trung niên. Mọi người cần duy trì cân nặng lý tưởng. Người thừa cân, béo phì cần giảm cân để đạt cân nặng lý tưởng qua đó giúp giảm huyết áp, cải thiện tình trạng rối loạn lipit máu, giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 và giảm được nguy cơ bệnh tim mạch./.
Tường Huân