[Đăng ngày: 07/01/2021]

Người bệnh đái tháo đường tuýp 2 cần điều trị các bệnh phối hợp và các biến chứng nếu có theo hướng dẫn chuyên môn của các bệnh và biến chứng đó.

Người bệnh đái tháo đường phải đo huyết áp định kỳ ở mỗi lần thăm khám. Nếu huyết áp tâm thu ≥130mmHg hay huyết áp tâm trương ≥80mmHg cần phải kiểm tra lại huyết áp vào ngày khác. Chẩn đoán tăng huyết áp khi đo kiểm tra lại huyết áp tâm thu ≥140mmHg và/hay huyết áp tâm trương ≥90mmHg.

Phần lớn bệnh nhân đái tháo đường cần điều trị huyết áp tâm thu <140mmHg, huyết áp tâm trương <90mmHg. Có thể đặt mục tiêu thấp hoặc cao hơn tùy vào đặc điểm bệnh nhân, đáp ứng điều trị của bệnh nhân. Đối với bệnh nhân trẻ giảm huyết áp <130/90-80mmHg nếu bệnh nhân dung nạp được. Đối với bệnh nhân có bệnh thận mạn huyết áp có thể <130/80-85mmHg.

Những bệnh nhân đái tháo đường có huyết áp tâm thu từ 130-139mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương 80-89mmHg cần điều trị thay đổi lối sống trong thời gian tối đa 3 tháng. Nếu không đạt mục tiêu huyết áp, cần điều trị thuốc hạ huyết áp. Bệnh nhân thừa cân cần có kế hoạch giảm cân. Chế độ ăn của bệnh nhân tăng huyết áp cần giảm muối và tăng lượng kali, hạn chế uống rượu và tăng hoạt động thể lực. Thuốc điều trị hạ huyết áp cho bệnh nhân đái tháo đường có tăng huyết áp gồm thuốc ức chế men chuyển hay thuốc ức chế thụ thể. Nếu bệnh nhân không dung nạp được thuốc này thì dùng nhóm thuốc khác thay thế. Không phối hợp ức chế men chuyển với ức chế thụ thể. Chống chỉ định dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể ở phụ nữ có thai.

Theo khuyến cáo của chuyên gia tim mạch, thường phối hợp nhiều hơn 2 thuốc ở liều tối đa để đạt được mục tiêu huyết áp. Khuyến cáo sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể phối hợp với thuốc lợi tiểu. Có thể phối hợp ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể với thuốc chẹn kênh canxi (ví dụ amlodipine). Nếu phối hợp 3 loại thuốc, bắt buộc phải có thuốc lợi tiểu. Nên dùng 1 hay nhiều thuốc hạ huyết áp ở thời điểm trước khi đi ngủ. Bệnh nhân cần được theo dõi chức năng thận và nồng độ kali máu.

Bệnh nhân đái tháo đường có tăng huyết áp tần suất 50-70%, tùy thuộc loại đái tháo đường, tuổi, béo phì. Tăng huyết áp là nguy cơ gây bệnh mạch vành, đột quỵ và biến chứng mạch máu nhỏ. Ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 tăng huyết áp hậu quả gây biến chứng thận; đối với bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 tăng huyết áp thường có sẵn cùng với các yếu tố nguy cơ tim mạch, rối loạn chuyển hóa khác.

Nhóm thuốc điều trị đái tháo đường GLP-1, RA và ức chế SGLT2 có tác dụng giảm nhẹ huyết áp nên có thể cân nhắc trong điều trị.

Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 cần kiểm tra bộ lipit máu ít nhất hàng năm. Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 người lớn cần thực hiện chế độ dinh dưỡng tốt cho tim mạch, tăng cường hoạt động thể lực 150 phút/tuần, giảm cân, cải thiện nguy cơ tim mạch xơ vữa.

Ở người có độ tuổi 40-75 tuổi bất kể nguy cơ tim mạch xơ vữa 10 năm là bao nhiêu, cần được điều trị statin cường độ trung bình. Ở tuổi 20-39 tuổi có yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa có thể bắt đầu điều trị statin.

Ở bệnh nhân đái tháo đường nguy cơ cao, có đa yếu tố tim mạch xơ vữa nên được điều trị statin cường độ mạnh, hạ LDL-C ≥50% hoặc dưới 1,8mmol/L (70mg/dL). Bệnh nhân đái tháo đường nguy cơ rất cao (có bệnh tim mạch xơ vữa, có ≥ 3 yếu tố nguy cơ chính) cần hạ dưới 1,4mmol/L (55mg/dL). Nếu chưa đạt mục tiêu khi dùng statin tối đa có thể dung nạp, cân nhắc phối hợp thuốc ezetimibe hoặc PCSK9i.

Xét nghiệm LDL-C là chỉ số chính trong sàng lọc, chẩn đoán và quản lý bệnh nhân tiên lượng nguy cơ biến cố tim mạch. Do vậy cần ưu tiên mục tiêu điều trị LDL-C với statin trước, các mục tiêu lipit khác gồm tryglyxerid <150mg/dL (1,7mmol/L); HDL-C >40mg/dL (1,0mmol/L) ở nam và >50mg/dL (1,3mmol/L) ở nữ.

Theo các chuyên gia đái tháo đường, biến chứng mắt bệnh nhân đái tháo đường là bệnh võng mạc không tăng sinh và bệnh võng mạc tăng sinh. Bệnh võng mạc không tăng sinh (viêm võng mạc tổn thương nền), giai đoạn sớm vi phình mạch, xuất huyết hình chấm, xuất huyết – phù võng mạc có thể gây tổn thương tại hoàng điểm và gây mù. Bệnh võng mạc tăng sinh do đái tháo đường, tăng sinh mao mạch, tổ chức xơ tại võng mạc, gây tắc mạch máu nhỏ, thiếu oxy võng mạc, kích thích sự phát triển mạch máu mới; trường hợp nặng xuất huyết dịch kính, bong võng mạc gây mù.

Biến chứng trên bệnh nhân đái tháo đường còn là đục thủy tinh thể, glaucoma. Các chuyên gia khuyến cáo, cần tầm soát biến chứng võng mạc cho người bệnh đái tháo đường tuýp 1 mỗi 5 năm sau chẩn đoán; đối với người đái tháo đường tuýp 2, tầm soát biến chứng võng mạc ngay thời điểm chẩn đoán. Ở phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường cần được tầm soát biến chứng võng mạc trước khi có thai hay chuẩn bị mang thai. Đối với phụ nữ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ không cần tầm soát biến chứng võng mạc.

Kỹ thuật viên, bác sĩ chuyên khoa đái tháo đường cần được đào tạo tầm soát bệnh lý võng mạc định kỳ. Trường hợp khó, hội ý bác sĩ chuyên khoa mắt. Kiểm soát tốt huyết áp và đường huyết sẽ giúp ngăn ngừa và làm chậm diễn tiến biến chứng võng mạc./.

Hoa Đăng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 400

Số lượt truy cập: 9285563

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang