Điều tra quốc gia của Bộ Y tế năm 2015 ở nhóm 18-69 tuổi, tỷ lệ béo phì BMI≥25 là 15,6%; tăng huyết áp là 18,9%; đái tháo đường là 4,1%; tăng cholesterol máu toàn phần (≥5mmol/l) là 30,3%; thiếu hoạt động thể lực 28,1%; hút thuốc lá ở nam giới 45,3%; uống rượu ở nam giới mức gây hại 44,2%; ăn không đủ lượng rau quả (dưới 400g/ngày) có tỷ lệ 57,2%.
Các mô hình nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy bệnh tim mạch là một nhóm bệnh lý mạn tính, tiến triển chậm, phải qua thời gian dài từ khi có thương tổn cho tới có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Đối với xơ vữa động mạch có nhiều yếu tố liên quan đến sự phát triển mảng xơ vữa, tuy nhiên những yếu tố quyết định là chế độ ăn uống, môi trường và các yếu tố kinh tế - xã hội. Xơ vữa động mạch có thể phát triển rất sớm từ khi còn trẻ tuổi, thậm chí từ thời thơ ấu cho đến tuổi thanh thiếu niên và trưởng thành. Điều này gợi ý bệnh mạch vành phát triển trong suốt cuộc đời và việc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ gây bệnh từ lúc bé cũng là yếu tố rất cần phải lưu ý.
Tác giả Mackie và Rothman đã đưa ra nguyên lý INUS, theo đó các yếu tố nguyên nhân tương tác với nhau như một buổi hòa nhạc. Mỗi nguyên nhân là một thành phần của hàng loạt các nhóm nguyên nhân và cùng góp phần gây bệnh. Một nguyên nhân không đủ điều kiện để gây bệnh nhưng một nguyên nhân đó là “cần thiết” trong nhóm nguyên nhân dẫn đến bệnh. Việc có mặt tất cả các thành phần của một nhóm nguyên nhân cũng là không cần thiết vì có các nhóm khác nhưng chúng là “đủ” nếu chúng có mặt đầy đủ. Nguyên lý INUS hữu ích trong thực hành. Mô hình cũng cho ta biết mối liên quan giữa thời gian phơi nhiễm và kết quả dẫn đến bệnh mạch vành. Thời gian phơi nhiễm cũng là một trong những thành phần của nguyên nhân gây bệnh. Từ mô hình ta đưa ra những chiến lược để phòng bệnh, tránh hoặc loại bỏ các thành phần trong mỗi nhóm nguyên nhân.
Năm 1965, tác giả Austin Bradford Hill đã đưa ra tiêu chuẩn xác định nguyên nhân gây ra bẹnh tim mạch (Tiêu chuẩn Hill); có 9 điều kiện tối thiểu, cần thiết để thiết lập mối quan hệ nhân – quả trong bệnh tim mạch, đó là: mối quan hệ về thời gian, yếu tố phơi nhiễm luôn đi trước kết quả; Sức mạnh của mối liên kết nhân quả; Mối quan hệ đáp ứng liều, càng gia tăng sự phơi nhiễm, nguy cơ càng tăng cao; Tính nhất quán, yếu tố dịch tễ, vùng địa lý, thời gian; Tính hợp lý, phù hợp với quá trình bệnh lý; Xem xét các giải pháp thay thế; Nghiên cứu thực nghiệm; Đặc hiệu, trường hợp khi một nguyên nhân duy nhất tạo ra một hiệu quả đặc hiệu. Điều này hiếm xảy ra đối với bệnh mạch vành; Sự gắn kết, mối liên hệ nhân quả phải tương thích với lý thuyết hiện có.
Năm 1964, các bác sĩ ngoại khoa Mỹ báo cáo hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chắc chắn của bệnh ung thư phổi, viêm phế quản mạn tính nhưng ít nhấn mạnh đến mối liên quan giữa hút thuốc lá với bệnh tim mạch mà chỉ đề cập nguy cơ tăng lên ở người hút thuốc lá. Những năm sau đó, hàng loạt nghiên cứu bằng chứng về việc hút thuốc lá làm thay đổi các chỉ điểm sinh học của phản ứng viêm, huyết khối và các chỉ điểm cận lâm sàng của xơ vữa động mạch. Các bằng chứng này cho thấy rõ mối liên quan giữa hút thuốc lá và cơ chế của bệnh xơ vữa động mạch. Hút thuốc lá làm tăng gấp 2 lần nguy cơ bệnh tim mạch. Ở nữ giới hút thuốc lá có nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn so với nam giới hút thuốc lá. Đối với người hút thuốc lá thụ động nguy cơ bị bệnh tim mạch tăng lên 1,2-1,6 lần. Các kết quả cho thấy tác động của hành vi bỏ thuốc lá sau nhồi máu cơ tim làm giảm đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch (40% trong vòng hai năm).
Đối với Cholesterol toàn phần có mối liên quan rõ ràng với nguy cơ bệnh tim mạch. Nếu giảm 1,0mmol/l Cholesterol toàn phần giúp làm giảm 50% tỷ lệ tử vong do tim mạch ở nhóm người 40-49 tuổi và 17% ở nhóm 70-79 tuổi.
Thuốc Statin giúp làm giảm Cholesterol từ 1,0 đến 2,8mmol/l, tùy thuộc vào loại thuốc, liều lượng và sự tuân thủ điều trị. Giảm 1,0mmol/l Cholesterol toàn phần với Statin giúp giảm 11% nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ và hiệu quả này tăng lên là 36% sau 5 năm.
Cholesterol tỷ trọng cao (HDL-C) có vai trò bảo vệ. Tăng HDL mỗi 1mg/dL giúp làm giảm 2-3% tổng biến cố tim mạch. Hiện các thuốc giúp làm tăng HDL chưa chứng minh được tác dụng làm giảm nguy cơ tim mạch.
Tryglycerid (TG) cũng có liên quan đến nguy cơ tim mạch, tuy nhiên liên quan này có xu hướng là do liên quan với giảm HDL-C. Có một số nghiên cứu cho rằng TG dưới 1,7mmol/l (<150mg/dL) tương ứng với mức nguy cơ thấp.
Đối với bệnh tăng huyết áp, huyết áp tâm trương là một yếu tố nguy cơ độc lập và là yếu tố quan trọng dự báo nguy cơ bệnh tim mạch. Tuy nhiên những nghiên cứu sau đó chỉ ra mối liên quan mạnh mẽ hơn giữa huyết áp tâm thu và nguy cơ bệnh tim mạch. Nghiên cứu cho thấy cứ giảm mỗi 20mmHg tâm thu thì sẽ làm giảm gần 3 lần tỷ lệ tử vong do đột quỵ và 2 lần tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành. Cần lưu ý, đây là mối liên quan tuyến tính liên tục cho đến khi huyết áp tâm thu xuống đến ngưỡng 115mmHg.
Đối với nguy cơ đột quỵ não, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương có vai trò như nhau cho đến tuổi 62; ở người cao tuổi huyết áp tâm thu quan trọng hơn, cần chú ý hơn. Giảm huyết áp, chủ yếu là huyết áp tâm thu sẽ làm giảm đáng kể biến cố mạch máu và tử vong ở những người chưa có biến cố mạch máu. Điều trị hạ huyết áp giúp làm giảm tử vong do bệnh động mạch vành 10-12% và làm giảm nguy cơ tổng biến cố đột quỵ tới 37%, giảm 36% nguy cơ đối với đột quỵ gây tử vong.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp như căng thẳng tâm lý, hoạt động thể lực, cân nặng, chế độ ăn, đặc biệt ăn nhiều muối có vai trò quan trọng hơn cả. Nghiên cứu Intersalt cho thấy, lượng muối ăn vào cao hơn 100mmol sẽ làm tăng 2-6mmHg huyết áp tâm thu và tăng 3mmHg huyết áp tâm trương./.
Nguyên Khải