Theo các chuyên gia sản khoa, sự ra đời của thụ tinh trong ống nghiệm mang thai hộ đã thỏa mãn được mong ước làm mẹ của hàng triệu bà mẹ không thể mang thai bằng tử cung của mình.

Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không thể mang thai bằng tử cung của mình như không có tử cung do bẩm sinh (hội chứng Rokintasky); do bị cắt tử cung vì băng huyết sau sinh ở lần sinh trước; do u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung; do đã thụ tinh trong ống nghiệm thất bại nhiều lần; do dính buồng tử cung; mẹ mắc bệnh không thể mang thai như bệnh tim mạch, bệnh huyết áp, u xơ tử cung quá to, đa nhân xơ tử cung, do sảy thai liên tiếp...
Từ tháng 3/2015 đến tháng 3/2016, theo dõi tình trạng thai nghén đến tháng 9/2016 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Hợi và cộng sự Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia- Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã thực hiện nghiên cứu tiến cứu mô tả báo cáo” Kết quả bước đầu của thụ tinh trong ống nghiệm- mang thai hộ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”. Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ độc thân tuổi 20-45; hoặc đã có gia đình nhưng chưa từng có con chung với chồng hiện tại; có chỉ định mang thai hộ. Đối tượng mang thai hộ được siêu âm chụp tử cung- vòi trứng đánh giá tử cung mang thai được; không có bệnh nội khoa, truyền nhiễm, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS.

Theo BS Xuân Hợi, tiêu chuẩn nghiên cứu gồm xác định tỷ lệ làm tổ dựa tổng số túi ối/ tổng số phôi chuyển vào buồng tử cung; xác định có thai sinh hóa. Thai lâm sàng được xác định khi có hình ảnh túi ối trên siêu âm đường âm đạo sau chuyển phôi 4 tuần. Thai ngoài tử cung là trường hợp xét nghiệm bêta hCG có thai, siêu âm không có thai trong buồng tử cung và xác định thai ngoài tử cung. Sẩy thai được xác định khi thai bị đẩy ra khỏi tử cung dưới 22 tuần tuổi thai. Thai lưu được xác định các trường hợp thai bị chết mà còn lưu lại trong tử cung trên 48 giờ.
BS. Xuân Hợi báo cáo trong 51 đối tượng nghiên cứu, do không có tử cung là 35,3%; do thụ tinh trong ống nghiệm bị thất bại nhiều lần là 31,37%; do dính buồng tử cung chiếm 11,7%; tử cung nhi hóa 5,88%; u xơ tử cung và lạc nội mạc tử cung 3,9%; bệnh của mẹ do tuyến giáp 7,84%; tiền sử thai nghén nặng nề gần 4%.
Tác giả nghiên cứu phân tích, số noãn trung bình chọc hút được là 11,2 noãn; trong đó ít nhất là 1 noãn và nhiều nhất là 38 noãn, chu kỳ thu được trên 10 noãn chiếm tỷ lệ cao với 49%. Số trường hợp bị quá kích buồng trứng là 7/51, chiếm 13,7%; trong đó có 01 trường hợp quá kích buồng trứng mức độ nặng. Số phôi thu được trung bình trong nghiên cứu là 7,96 phôi; số phôi < 5 chiếm 39,2%; số phôi chuyển trung bình là 3,1 phôi.
Về tỷ lệ làm tổ là 25,6% (40/156); tỷ lệ có thai là 58,8% (30/51); tỷ lệ có thai lâm sàng là 27/51 (52,9%). Tỷ lệ có thai sinh hóa là 3/51 (5,8%). Tỷ lệ sảy thai là 3/27 (11,1%); thai lưu có 6/27 trường hợp (22,2%).
BS.Xuân Hợi báo cáo, có 27 chu kỳ có thai trong đó có 14 ca đã sinh; 03 ca có tuổi thai từ 28-35 tuần; 06 ca thai lưu, 03 ca sảy thai, có 01 ca thai bị dị tật. Trong 14 trường hợp đã sinh có 10 ca sinh mổ.
Tác giả lưu ý, sinh sớm cũng là điều lo ngại khi mang thai, làm ảnh hưởng đến tỷ lệ trẻ sinh sống; tăng tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi sinh và tăng tỷ lệ tuổi thai trung bình khi sinh của nghiên cứu là 36,92 tuần (32-39); sinh sớm dưới 37 tuần chiếm 42,9% (6/14); trường hợp sinh sớm nhất là trường hợp song thai 32 tuần. Tuổi thai trung bình khi sinh của nhóm 1 thai là 38,5 tuần (38-39). Trọng lượng thai trung bình của nghiên cứu là 2547 gram (1600-3600), tỷ lệ nhẹ cân là 9/22 ca; chủ yếu ở nhóm song thai.
Có 01 trường hợp thai dị tật bẩm sinh với hội chứng Hygroma Sky tique lúc tuổi thai 13 tuần.
Tác giả có kết luận, phác đồ kích thích buồng trứng chủ yếu là phác đồ antagonist và phác đồ ngắn. Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định Nghị định số 10/2015 của Chính phủ.
Phúc Nguyên