Theo báo cáo của Bộ Y tế, điều tra quốc gia các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm sử dụng phương pháp STEPS của Tổ chức Y tế thế giới được thực hiện năm 2021 là vòng thứ 2 tại Việt Nam.
Mục tiêu của cuộc điều tra là đánh giá thực trạng và xu hướng các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm trong dân số từ 18-69 tuổi. Các chỉ số hành vi nguy cơ chính của bệnh không lây nhiễm được đánh giá là hút thuốc, uống rượu, bia, chế độ ăn uống và họat động thể lực. Các chỉ số năm 2021 được so sánh với chỉ số tương tự vào năm 2015 để đánh giá xu hướng theo thời gian.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ hiện hút thuốc lá năm 2021 thấp hơn so với năm 2015, tương ứng 20,8% so với 22,5% (cho nhóm từ 15 tuổi trở lên). Riêng đối với nam giới trưởng thành tỉ lệ hút thuốc giảm từ 45,3% năm 2015 xuống 41,1% năm 2021, đối với nữ từ 1,1% xuống 0,6%.
Đáng chú ý là tỉ lệ tiếp xúc khói thuốc lá thụ động tại nhà giảm đáng kể, từ 55,9% năm 2015 xuống còn 37,3% năm 2021.
Các mục tiêu tự nguyện toàn cầu về bệnh không lây nhiễm và chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm yêu cầu Việt Nam phải giảm 30% tỉ lệ sử dụng thuốc lá năm 2025 so với mức cơ sở năm 2015. Với tốc độ giảm như hiện nay, Việt Nam sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa mới đạt được mục tiêu toàn cầu và quốc gia vào năm 2025.
Đối với uống rượu, bia ở mức nguy hại, được định nghĩa là trong 30 ngày qua có ít nhất 1 lần uống từ 6 đơn vị cồn trở lên. Kết quả điều tra năm 2021, Việt Nam có khoảng 1/7 (14,7%) số người trong độ tuổi từ 18-69 uống rượu, bia mức nguy hại, trong đó nam giới là 28,5%, nữ giới là 1%. Chỉ số này là một chỉ số quan trọng, WHO sử dụng để làm chỉ số so sánh quốc tế giữa các nước.
So sánh với năm 2015, tỉ lệ sử dụng rượu, bia trong 30 ngày qua đã giảm từ 43,8% năm 2015 xuống 36,9% năm 2021. Đối với nam giới, năm 2015 là 44,2%, năm 2021 giảm 28,5%; nữ giới 1,2% giảm 1% là chỉ số tỉ lệ uống rượu, bia ở mức nguy hại.
Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm đặt mục tiêu giảm 10% tỉ lệ sử dụng rượu, bia vào năm 2025 so với năm 2015. Tuy nhiên, do điều tra này thực hiện năm 2021 ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên có thể ảnh hưởng giảm việc tiêu thụ sử dụng rượu, bia.
Về giảm lượng muối ăn vào được xác định là một biện pháp quan trọng và hiệu quả về chi phí để cải thiện sức khỏe người dân trên toàn cầu, vì chế độ ăn thừa muối có liên quan đến tăng huyết áp và nhiều loại bệnh khác. Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị mỗi người nên tiêu thụ ít hơn 5 gam muối (hoặc 2 gam natri) mỗi ngày.
Kết quả điều tra năm 2021, lượng muối ăn trung bình/ngày ở mỗi người Việt Nam là 8,1 gam, giảm so với năm 2015 là 9,4 gam. Mức giảm này ở cả nam và nữ, nếu xu hướng giảm tiêu thụ muối hiện tại được duy trì, Việt Nam có thể đạt mục tiêu năm 2025 giảm được 30% lượng muối tiêu thụ so với năm 2015.
Tại Việt Nam, 1/4 dân số trưởng thành (26,2%) năm 2021 bị tăng huyết áp, tức là có huyết áp tâm thu ≥ 40 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp. So với năm 2015, tỉ lệ tăng huyết áp là 18,9%, năm 2021 tăng 26,2%, tức tăng tương đối khoảng 1,39 lần ở cả nam và nữ.
Với xu hướng gia tăng của bệnh tăng huyết áp hiện nay, Việt Nam cần tăng cường nỗ lực phòng chống để đạt được mục tiêu quốc gia là kiểm sóat tỉ lệ tăng huyết áp ở mức dưới 30% vào năm 2025 như đã đề ra trong chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025.
Năm 2021, tỉ lệ tăng đường huyết lúc đói (≥ 7,0 mmol/L) hoặc đang uống thuốc hạ đường huyết hoặc insulin là 7,1% trong dân số từ 18-69 tuổi. Tỉ lệ này tăng hơn năm 2015 chỉ là 4,1%, tăng 1,73 lần. Xu hướng gia tăng nhanh cho thấy Việt Nam cần phải tăng cường các nỗ lực phòng chống đái tháo đường để có thể đạt được mục tiêu tự nguyện toàn cầu và mục tiêu quốc gia là khống chế tỉ lệ mắc đái tháo đường dưới 8% vào năm 2025.
Năm 2021, tỉ lệ tăng cholesterol toàn phần máu ≥ 5,0 mmol/L hoặc đang dùng thuốc điều trị tăng cholesterol máu là 44,1%, năm 2015 chỉ số này là 30,2%, mục tiêu giai đoạn 2015-2025 chỉ số này là 35%.
Các chuyên gia nghiên cứu khuyến nghị, các dịch vụ quản lý, điều trị bệnh không lây nhiễm ở tuyến cơ sở cần được tăng cường hơn nữa để đảm bảo độ bao phủ và dịch vụ có chất lượng, hiệu quả về chi phí cho bệnh nhân, phát hiện sớm tăng huyết áp, đái tháo đường để có biện pháp điều trị phù hợp, phòng tránh biến chứng nặng và giảm tải các bệnh viện tuyến trên./.
Nguyên Khải