Ngày 31/01/2023, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 359/QĐ-BYT tài liệu “Hướng dẫn phát hiện sớm – Can thiệp sớm khuyết tật trẻ em”.
Theo Luật Người khuyết tật, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho hoạt động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.
Hạn chế hoạt động là tình trạng khó khăn khi thực hiện một hoặc nhiều hoạt động trong đời sống hàng ngày như đi lại, ăn, mặc quần áo, chăm sóc cá nhân, giao tiếp với người khác…do ảnh hưởng của khiếm khuyết kết hợp với các rào cản tiếp cận môi trường. Đây là tình trạng khuyết tật ở cấp độ cá nhân.
Hạn chế sự tham gia là tình trạng một người gặp khó khăn hoặc không thể tham gia các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống như học tập, lao động, vui chơi, thể thao, văn hóa, du lịch do ảnh hưởng bởi khiếm khuyết hoặc hạn chế vận động kết hợp với các rào cản xã hội như phân biệt đối xử, thiếu chính sách hỗ trợ. Đây là tình trạng khuyết tật ở cấp độ xã hội.
Theo Luật Người khuyết tật, có 06 dạng khuyết tật: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác.
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới công bố đầu năm 2010, tỷ lệ 10% khuyết tật trên tổng dân số thế giới. Số liệu những cuộc điều tra gần đây cho thấy khoảng trên 01 tỷ người (15% dân số) trên thế giới bị khuyết tật.
Tỷ lệ khuyết tật ở trẻ em toàn cầu báo cáo năm 2004 vào khoảng 5,1% ở nhóm từ 0-14 tuổi, không có sự khác biệt đáng kể giữa tỷ lệ khuyết tật ở trẻ trai và trẻ gái. Một điều tra của Mỹ năm 1994-1995 cho thấy trẻ ở tuổi học đường có 1,3% khó khăn về vận động, 0,9% không thể tự chăm sóc cho mình, 5,5% khó khăn về giao tiếp, 10,6% gặp khó khăn về học tập.
Theo báo cáo của Tổng Cục thống kê năm 2016, ước tính Việt Nam có khoảng 3,1% trẻ em độ tuổi từ 0-17 tuổi khuyết tật, trong đó trẻ dưới 6 tuổi có tỷ lệ khuyết tật là 1,39%. Loại khuyết tật phổ biến ở trẻ em là vận động chiếm 22,4%; về khuyết tật nói chiếm 21,4% tổng số trẻ khuyết tật; trong đó nguyên nhân bẩm sinh chiếm 55%, do bệnh tật 23,5%. Có khoảng một nửa số trẻ em khuyết tật tại cộng đồng và khoảng 90% số trẻ em khuyết tật sống tại các Trung tâm có tình trạng cùng nhiều khuyết tật.
Phát hiện sớm trẻ khuyết tật là các biện pháp sàng lọc rối loạn phát triển của trẻ theo độ tuổi và giai đoạn nhằm phát hiện những trẻ có yếu tố nguy cơ bị khuyết tật để gửi đi khám và phân loại khuyết tật từ đó có biện pháp can thiệp sớm.
Nhận biết sớm là quan sát được những dấu hiệu đầu tiên gợi ý sự phát triển của trẻ có thể có nguy cơ hoặc bất thường về thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi.
Phát hiện sớm là sự nhận diện một cách hệ thống các dấu hiệu bất thường về phát triển thể chất, giác quan, tâm thần và hành vi. Các công cụ sàng lọc phát hiện sớm các bất thường sẽ được gia đình, cộng đồng hoặc cán bộ y tế, cán bộ giáo dục thực hiện. Kết quả sàng lọc chưa phải là chẩn đoán, trẻ cần được khám chuyên khoa để có chẩn đoán cuối cùng.
Nếu được phát hiện sớm và can thiệp sớm, trẻ khuyết tật sẽ phục hồi trở thành trẻ bình thường. Ví dụ trẻ bị bàn chân khoèo bẩm sinh, trẻ trật khớp háng bẩm sinh, trẻ tự kỷ nhẹ. Một số trẻ khuyết tật khác có thể phát triển được những kỹ năng gần như trẻ bình thường, không dẫn đến các khuyết tật thứ phát, các kỹ năng được cải thiện nhiều.
Việt Nam trong thời gian qua đã triển khai nhiều mô hình và chỉ số khác nhau như mô hình can thiệp sớm tại cộng đồng, mô hình can thiệp sớm tại trường mầm non hòa nhập, mô hình can thiệp sớm tại các Trung tâm y tế hoặc bệnh viện.
Thông thường chất lượng của một chương trình sẽ quyết định bởi người cung cấp dịch vụ, cách phối hợp các loại dịch vụ và đặc điểm của cộng đồng nơi họ cung cấp các dịch vụ đó. Quan trọng là cần có sự phối hợp các tiêu chí của một chương trình thật tốt dựa trên nguồn lực hiện tại để triển khai, dịch vụ phải được xác định rõ ràng, kết quả mong đợi cuối cùng của chương trình cần được thể hiện rõ từ đầu.
Phối hợp đa ngành là cốt lõi thành công trong phát hiện sớm, can thiệp sớm trẻ khuyết tật, tạo ra được mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ của cả cộng đồng đến cuộc sống của trẻ em và gia đình của trẻ. Sự phối hợp này lấy gia đình làm trọng tâm, thực hiện các can thiệp, phản hồi thông tin giúp tăng hiệu quả can thiệp cho trẻ. Cần xây dựng mạng lưới gồm gia đình, nhân viên y tế cộng đồng liên kết với các cơ sở y tế, các ban ngành liên quan để phát hiện sớm, tư vấn và đưa trẻ đến nơi can thiệp sớm.
Gia đình cần sử dụng Sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ - trẻ em để nhận biết sớm những dấu hiệu nguy cơ trong thời kỳ mang thai cũng như những bất thường về phát triển của trẻ và báo cho nhân viên y tế thôn hoặc trạm y tế để được tư vấn cách xử trí.
Gia đình cần để bà mẹ sinh con ở cơ sở y tế, tuân thủ các hướng dẫn theo dõi trẻ và đưa trẻ đến khám định kỳ và tiêm chủng đúng lịch theo hướng dẫn. Cần hợp tác với nhân viên y tế trong việc thực hiện kỹ thuật can thiệp sớm phục hồi chức năng, hướng dẫn thành viên gia đình cùng tập luyện cho trẻ. Tạo môi trường thuận lợi cho trẻ tham gia các hoạt động trong gia đình, tại trường lớp và cộng đồng. Tạo mọi điều kiện để trẻ được đến trường, thường xuyên hợp tác với giáo viên để thực hiện các can thiệp thống nhất, liên tục, cần trao đổi kinh nghiệm với gia đình có trẻ khuyết tật khác./.
Quỳnh Anh