Ngày 9/12/2021, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 5628/QĐ-BYT phê duyệt Đề án nâng cao năng lực khám chữa bệnh răng hàm mặt và dự phòng bệnh răng miệng cộng đồng giai đoạn 2021-2030.
Tất cả người dân cần được chăm sóc sức khỏe răng miệng phù hợp với chi phí hợp lý. Để chương trình có hiệu quả cần có mạng lưới triển khai, nguồn lực, hành lang pháp lý, nhận thức, giáo dục sức khỏe răng miệng và tiếp cận dịch vụ.
Một khó khăn thực tế là ngành răng hàm mặt yếu về sự kết nối hệ thống công lập và ngoài công lập của các cơ sở y tế trong chăm sóc sức khỏe răng miệng, chưa có hệ thống thu thập quản lý sử dụng dữ liệu sức khỏe và chăm sóc sức khỏe răng miệng toàn dân số hóa thống nhất, cập nhật và áp dụng kỹ thuật mới trong phòng và điều trị bệnh răng miệng không đồng đều ở các tuyến và vùng miền, nguồn lực hạn chế về nhân lực và kinh phí đầu tư tham gia vào công tác chăm sóc và nghiên cứu sức khỏe răng miệng.
Về công tác nha học đường, gần đây do thay đổi cơ chế quản lý, thiếu sự gắn kết với ngành giáo dục, thiếu nguồn lực được đào tạo đáp ứng đúng theo Luật Khám chữa bệnh, thiếu kinh phí thực hiện, một số mô hình chăm sóc sức khỏe răng miệng được triển khai trước đây như Fluor hóa nguồn nước sinh hoạt, Fluor hóa muối ăn, chương trình P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam nhưng thiếu tính bền vững, không đủ kinh phí, nhân lực, chưa có sự tham gia của cả hệ thống y tế và cộng đồng.
Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc thực hiện năm 2015, tỷ lệ mắc các bệnh răng miệng cao ở mọi lứa tuổi. Tỷ lệ sâu răng sữa ở nhóm trẻ từ 6-8 tuổi là rất cao (86,4%), trung bình mỗi trẻ có 6,21 răng bị sâu, sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em xuất hiện sớm và có chiều hướng tăng theo thời gian.
Nhóm trẻ em từ 6-8 tuổi có 20,9% sâu răng vĩnh viễn; 35,2% sâu răng ở người lớn; độ tuổi từ 18-34 tỷ lệ sâu răng là 72,8%; độ tuổi từ 35-44 tỷ lệ 70,4%; độ tuổi trên 45 tỷ lệ này là 66,7%. Tỷ lệ chảy máu lợi chiếm 54,5%; túi lợi nông chiếm 7%; túi lợi sâu là 3,9%. Tỷ lệ trẻ em bị lệch lạc răng cao, chiếm trên 90,1%. Tỷ lệ người cao tuổi bị mất răng chiếm 79,4%, trong đó tỷ lệ mất từ 1-8 răng (còn lại trên 20 răng còn chức năng) thấp chiếm 65,7%; tỷ lệ mắc bệnh quanh răng ở người trên 65 tuổi rất cao (77,3%).
Trong Đề án, bệnh răng miệng thường gặp là các bệnh liên quan đến răng miệng, có tần suất cao trong cộng đồng như sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng. Còn sức khỏe răng miệng là tình trạng lành mạnh của các cấu trúc giải phẫu trong khoang miệng, răng hàm mặt để thực hiện tốt các chức năng, thẩm mỹ.
Đề án nâng cao sức khỏe răng miệng này rất gắn bó với Quyết định số 1660/QĐ-TTg ngày 2/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình sức khỏe học đường giai đoạn 2021-2025.
Mục tiêu cụ thể của Đề án là kiện toàn, phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe răng miệng, gắn kết cơ sở khám chữa bệnh với nhà trường và các tổ chức xã hội, nâng cao hoạt động chăm sóc và dự phòng các bệnh răng miệng, xây dựng và chuẩn hóa quy trình chuyên môn kỹ thuật răng hàm mặt, áp dụng các giải pháp công nghệ thông tin và xây dựng hệ thống quản lý thông tin quốc gia về sức khỏe răng miệng người Việt Nam.
Ở phạm vi cộng đồng, Đề án lấy trọng tâm tại các Sở Y tế, Sở Giáo dục – Đào tạo, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, cơ sở đào tạo học sinh, sinh viên các cấp và chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội.
Các chỉ số hoạt động, triển khai Đề án là tổng số hoạt động truyền thông răng hàm mặt được triển khai gồm chương trình Nha học đường, Chăm sóc sức khỏe răng miệng người cao tuổi, Chăm sóc và dự phòng bệnh răng miệng. Đạt tỷ lệ 100% học sinh được tuyên truyền giáo dục sức khỏe răng miệng; 100% trường học đều tham gia hoạt động chăm sóc sức khỏe răng miệng; đạt 85% tổng số trường học thực hiện kiểm tra sức khỏe răng miệng cho học sinh đầu năm học theo quy định. Tỷ lệ đạt 95% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế trường học được tập huấn về chăm sóc, bảo vệ và quản lý về sức khỏe răng miệng học sinh trong trường học. Sử dụng hiệu quả các phần mềm quản lý, theo dõi và thống kê đánh giá về sức khỏe răng miệng học sinh trong trường học.
Đạt được trên 90% dân số được quản lý, theo dõi và chăm sóc sức khỏe răng miệng; đạt 10% tỷ lệ người dân khám răng miệng định kỳ; đạt trên 80% sự hài lòng của người dân với dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng.
Đối với tỷ lệ bệnh răng miệng ở trẻ em cần đạt:
- Tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ dưới 6 tuổi < 60%.
- Tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ từ 6-8 tuổi < 80%.
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ 12 tuổi < 35%.
- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ trên 15 tuổi < 30%.
- Tỷ lệ viêm lợi ở trẻ em < 40%.
- Tỷ lệ sâu răng độ tuổi từ 18-34 < 63%.
- Tỷ lệ sâu răng độ tuổi từ 35-44 < 60%.
- Tỷ lệ sâu răng độ tuổi > 45 tuổi < 60%.
- Tỷ lệ răng người ≥ 60 tuổi có ít nhất 20 răng còn chức năng đạt 60%.
- Tỷ lệ người dân được khám và điều trị các bệnh răng miệng đạt 50%.
- Tỷ lệ trung bình bác sĩ răng hàm mặt so với dân số 1/10.000 dân.
- Giảm mức tiêu thụ đường trên đầu người 12 kg/năm.
Ngoài ra còn có những chỉ số về Bệnh viện Đa khoa có chuyên khoa Răng hàm mặt cả công lập và ngoài công lập; tổng số điều dưỡng, kỹ thuật viên răng hàm mặt được đào tạo; tổng số Bệnh viện chuyên khoa Răng hàm mặt./.
Hoa Đăng