Tỷ lệ mắc bệnh tăng sinh lành tuyến tiền liệt tăng theo tuổi, ước tính khoảng 50% nam giới ở độ tuổi 50-60 mắc bệnh này, 90% khi ở độ tuổi 80-90.
Triệu chứng đường tiểu dưới (TCĐTD) là tập hợp nhiều triệu chứng do tình trạng kích thích bàng quang, tắc nghẽn niệu đạo xuất hiện sau đi tiểu. Các thống kê cho thấy nam giới trên 50 tuổi thì 40% có TCĐTD. Từ 50 đến 80 thể tích tiền liệt tuyến có sự tăng lên đáng kể, từ 24ml lên 38ml, tốc độ dòng tiểu giảm đi rõ, từ 22 xuống còn 13,7ml/giây.
Các triệu chứng đường tiểu dưới làm người bệnh đi khám thường gặp là tình trạng tống xuất nước tiểu chậm, tiểu không thành dòng, tiểu ngắt quãng, tiểu ngập ngừng, tiểu phải rặn, tiểu nhỏ giọt…
Hoặc các triệu chứng liên quan tình trạng chứa đựng của bàng quang như tiểu gấp, tiểu nhiều lần ban ngày, tiểu đêm, tiểu không kiểm soát.
Các triệu chứng sau khi đi tiểu như cảm giác tiểu chưa hết, tiểu xong còn nhỏ giọt. Người bệnh để muộn có thể bị bí tiểu cấp, suy thận, nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
Tại cơ sở khám chuyên khoa, các bác sĩ sẽ dựa trên những câu hỏi của bảng điểm quốc tế chứng tuyến tiền liệt (IPSS) và bảng điểm chất lượng sống (QoL). Đánh giá mức độ trầm trọng của triệu chứng dựa vào bảng điểm IPSS. Đối với bảng IPSS khảo sát các triệu chứng trong vòng 1 tháng ngay trước khi người bệnh đến khám. Nếu từ 0-7 điểm là triệu chứng nhẹ, từ 8-19 điểm là triệu chứng trung bình và 20-35 điểm là triệu chứng nặng.
Đối với bảng điểm QoL, nếu 1-2 điểm ít ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, 3-4 điểm ảnh hưởng vừa phải và 5-6 điểm ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống.
Bác sĩ sẽ khám hệ tiết niệu, thăm trực tràng để đánh giá đặc điểm tuyến tiền liệt gồm kích thước, bề mặt, mật độ, giới hạn của tuyến tiền liệt với các cơ quan xung quanh. Thực hiện việc khám trực tràng sau khi làm xét nghiệm PSA. Cũng lưu ý, xét nghiệm định kỳ PSA không thực hiện sàng lọc trong cộng đồng nhưng nên chỉ định cho người bệnh nam giới trên 50 tuổi có TCĐTD.
Nếu kết quả PSA dưới 4mg/ml được cho là bình thường, 2 năm sau làm lại hoặc khi xuất hiện triệu chứng nghi ngờ ung thư tuyết tiền liệt.
Nếu PSA ≥ 4mg/ml thực hiện theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Xét nghiệm niệu dòng đồ để đánh giá tốc độ dòng tiểu trung bình, tốc độ dòng tiểu tối đa (Qmax), thể tích nước tiểu đi được, thời gian đi tiểu. Có giá trị chẩn đoán tắc nghẽn khi thể tích nước tiểu mỗi lần đi tiểu ≥ 150ml.
Nếu Qmax từ 10-15ml/s là tắc nghẽn trung bình. Nếu Qmax nhỏ hơn 10ml/s là tắc nghẽn nặng.
Bệnh nhân cần được tư vấn để thực hiện phiếu theo dõi tình trạng đi tiểu, đánh giá 24 giờ gồm số lần đi tiểu, khoảng cách giữa mỗi lần đi tiểu, thể tích nước tiểu về đêm. Nhật ký đi tiểu nên được theo dõi tối thiểu trong 3 ngày.
Mục tiêu điều trị TCĐTD do tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt là cải thiện triệu chứng, tăng chất lượng cuộc sống, duy trì hiệu quả điều trị lâu dài và giảm tối đa các tác dụng không mong muốn của các phương pháp điều trị.
Bác sĩ sẽ dựa trên đánh giá về lâm sàng, cận lâm sàng để xác định chẩn đoán có kèm các rối loạn chức năng bàng quang, qua đó lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
Ở giai đoạn nhẹ, người bệnh cần duy trì thói quen tập thể dục, uống đủ nước từ 2-2,5 lít/ngày, hạn chế uống từ 5 giờ chiều, không nhịn tiểu quá lâu, chống táo bón, hạn chế đồ uống có cồn, gia vị…
Cần theo dõi định kỳ từ 3-6 tháng, đánh giá điểm IPSS và QoL. Siêu âm đo thể tích tuyến tiền liệt, khảo sát hình thái hệ tiết niệu, đo thể tích nước tiểu tồn lưu, xét nghiệm nước tiểu, niệu dòng đồ.
Điều trị nội khoa làm giảm nhẹ rối loạn tiểu tiện, cải thiện chất lượng cuộc sống, làm chậm sự phát triển của bướu, hạn chế bệnh tiến triển, biến chứng bí tiểu cấp hoặc yêu cầu phẫu thuật.
Cần thăm khám chuyên sâu nếu có triệu chứng nặng kéo dài, đau bàng quang, đau niệu đạo, tiền sử có bí tiểu cấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái phát, tiểu máu đại thể, đã có phẫu thuật vùng chậu hoặc xạ trị kèm rối loạn hệ thần kinh, cầu bàng quang, tuyến tiền liệt kích thước lớn hoặc đau, có nhiều nhân cứng, tiểu máu, tiểu đục, tăng SPA, sỏi bàng quang, suy thận.
Các nhóm thuốc như nhóm chẹn alpha và nhóm ức chế men 5 alpha reductase (5ARI) là hai nhóm được dùng rộng rãi trong lâm sàng.
Khi sử dụng thuốc cần chú ý theo dõi huyết áp, nên sử dụng thước trước khi đi ngủ để tránh hạ huyết áp tư thế. Những bệnh nhân đang điều trị đục thủy tinh thể cần lưu ý hơn khi có sử dụng thuốc nhóm chẹn alpha.
Liệu pháp phối hợp thuốc chẹn alpha và thuốc 5RAI được khuyến cáo cho người bệnh có TCĐTD từ trung bình đến nặng, có nguy cơ bệnh tiến triển. Cụ thể, nếu thể tích tuyến tiền liệt lớn hơn 40ml cần phối hợp 02 thuốc giảm nguy cơ biến chứng bí tiểu cấp. Ở bệnh nhân mức độ trung bình có thể cân nhắc ngừng sử dụng thuốc chẹn alpha sau 6 tháng và duy trì điều trị thuốc 5ARI./.
Hoa Đăng