
Chẩn đoán lao ở người nhiễm HIV khó khăn do các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng không điển hình, tỷ lệ ca bệnh lao phổi âm tính ở những người nhiễm HIV từ 24% đến 61% liên quan tới khả năng ho khạc kém và ít kỹ thuật.
Gen Xpert MTB/RIF (Xpert MTB) như một xét nghiệm ban đầu cho những trường hợp nghi lao đa kháng thuốc và lao ở người nhiễm HIV. Kỹ thuật lấy đờm tác động là một kỹ thuật an toàn giúp tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn. Thực hiện kỹ thuật này trên nhóm đối tượng nhiễm HIV đánh giá một số yếu tố liên quan, khả năng tìm thấy vi khuẩn và một số yếu tố liên quan ở nhóm bệnh này.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Kim Cương cùng cộng sự Bộ môn Lao và bệnh Phổi – Đại học Y Hà Nội; bệnh viện Phổi Trung ương và bệnh viện Phổi Thanh Hóa thực hiện và báo cáo nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ lệ lấy đờm tác động và một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tìm thấy vi khuẩn bằng kỹ thuật Gen Xpert MTB/RIF, MGIT ở bệnh nhân lao phổi AFB (-) nhiễm HIV”.
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 3 năm từ tháng 1/2013 – 12/2015 tại bệnh viện Phổi Trung ương, bệnh viện Phổi Hà Nội, bệnh viện 09 Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu: 123 bệnh nhân nhiễm HIV > 18, được chẩn đoán lao phổi AFB (-) theo tiêu chuẩn chẩn đoán của CTCL. Loại trừ những bệnh nhân trong tình trạng nặng (tiêu chuẩn tình trạng nặng ở người nhiễm HIV) (thở > 30 lần/phút, Sốt > 39oC, Mạch > 120 lần, không tự đi lại được. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện chọn lựa không xác suất.
Phân tích hồi quy đơn biến một số yếu tố làm tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn bằng nuôi cấy MGIT như: BMI < 18.5kg/m2 OR=1,44, lympho T-CD4 < 200 tế bào/mm3 OR=1,64, có sốt OR-2,3, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), ra mồ hôi về đêm OR=3,49 (95% CI=1,47-8,30), có ý nghĩa thống kê với (p<0,05), nhưng với khoảng tin cậy của giá trị rộng (95% CI 1,47-8,30) cho thấy kết quả này chưa thật ổn định và đáng tin cậy. Phân tích hồi quy một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm thấy vi khuẩn lao bằng kỹ thuật Xpert MTB/RIF, chúng tôi nhận thấy MBI < 18.5kg/m2 OR=1,35, sốt OR=2,74, sụt cân OR=2,5, ra mồ hôi về đêm OR=2,25, ho trên 2 tuần OR=2,25, tuy nhiên các kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu Sekadde (2013), Van Rie (2013) rằng có rất ít các yếu tố có thể dự báo tốt khả năng xét nghiệm Xpert MTB (+), như vậy vẫn cần có thêm các kỹ thuật có khả năng phát hiện vi khuẩn lao ngoài các kỹ thuật hiện có như Xpert MTB/RIF, MGIT.

Trong số bệnh nhân lấy đờm tác động, có 20 bệnh nhân có kết quả Xpert MTB (+), chiếm 42,5% (20/47) và 26 bệnh nhân có kết quả nuôi cấy MGIT (+), chiếm 55,3% (26,47). Trong bệnh nhân có kết quả Xpert MTB (+), có 32,8% (20/61) số bệnh nhân được lấy đờm tác động. Trong 75 bệnh nhân có kết quả nuôi cấy MGIT (+), có 34,7% (26.75) số bệnh nhân lấy đờm tác động. Mặc dù không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa số trường hợp tìm thấy vi khuẩn bằng phương pháp lấy đờm tự nhiên hoặc lấy đờm tác động ở cả hai nhóm Gen Xpert MTB (+) hoặc MGIT(+) (p>0,05). Nhưng số trường hợp có bằng chứng vi khuẩn trong số lấy đờm tác động trong việc tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm. So sánh với tác giả Morse (2008) nghiên cứu trên 140 bệnh nhân, 81% (113/140) nhiễm HIV, 50,4% (57/113) trong số đó không khạc được đờm tự nhiên phải lấy đờm tác động, tỷ lệ xét nghiệm nuôi cấy đờm dương tính ở nhóm lấy đờm tác động là 84% (48/57), cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi là 55,3% (26/47).
Một số triệu chứng không mong muốn thường gặp khi thực hiện lấy đờm tác động như: ho sặc sụa (12,1%, hiện tượng này thường xảy ra trong những phút đầu khi người bệnh chưa phối hợp tốt, 5,6% cảm thấy khó thở trong khi khí dung, 2 trường hợp (1,6%) bệnh nhân có hiện tượng co thắt phế quản, 3,2% bệnh nhân có cảm giác lo lắng hoảng hốt, một số trường hợp sau đó tiếp tục thực hiện lại ngay khí dung và lấy được đờm, một số trường hợp không lấy được ngay nhưng lấy lại thành công lần sau. Những tác dụng không mong muốn trên đều tự giới hạn nhanh chóng, các bệnh nhân sau khi nghỉ ngơi đều tiếp tục khí dung và lấy đờm đạt yêu cầu. Kết quả này tương tự như báo cáo của các nghiên cứu khác như: Morse (2008) nhận xét tỷ lệ tác dụng phụ lấy đờm tác động; 1,4% nôn và ho, có 0,7% (1/140) trường hợp thất bại. Peter (2013) trên 268 bệnh nhân, tác dụng phụ liên quan tới kỹ thuật lấy đờm tác động như sau: 12% (32/268) bệnh nhân lấy đờm có tác dụng phụ so với nhóm hướng dẫn, trong đó thường gặp là: khó thở 4,1% (11/268) chóng mặt 3,3 % (9/268), đau đầu hoặc buồn nôn 7,9% (10/268).
Kết quả trong nghiên cứu này về khả năng tìm thấy vi khuẩn bằng lấy đờm tác động, tác dụng không mong muốn của kỹ thuật phù hợp với nhận xét của nhiều tác giả trong và ngoài nước gần đây là phương pháp ít xâm nhập, không gây nguy hiểm trong quá trình sử dụng, tuy nhiên cần có hướng dẫn, có phòng lấy đờm và các quy định đảm bảo tiêu chuẩn kiểm soát nhiễm khuẩn lao.
Kết luận, tác giả nghiên cứu cho là, đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ BMI thấp < 18,5% chiếm 81,6%, sốt 88,6%, mệt mỏi 89,4%, gầy sút 83,7% (89,4% và 80,3%), ra mồ hôi về đêm 94% (78,7% và 75%), ra mồ hôi về đêm 76,4%, có rales ở phổi 76,4%.
Yếu tố làm tăng khả năng tìm thấy vi khuẩn bằng MGIT là BMI <18,5kg/m2 OR=1,44; lympho T-CD4 < 200/nm3 OR=1,67, có gầy sụt cân OR=1,95; BMI < 18,5kg/m2 OR=1,35; ho trên 2 tuần OR=1,08; có gầy sụt cân OR=2,95; ra mồ hôi về đêm OR=2,25 là những yếu tố làm tăng khả năng Xpert(+).
Lấy đờm tác động thực hiện ở 38,3% số bệnh nhân. Trong 61 bệnh nhân Xpert dương tính thì có 32,8% bệnh nhân được lấy đờm tác động. Trong 75 bệnh nhân nuôi cấy MGIT dương tính thì có 34,7% bệnh nhân được lấy đờm tác động.
Tác dụng không mong muốn của lấy đờm tác động: ho sặc sụa cao nhất 12,1%, cảm giác khó thở 5,6%, thở rít 1,6%. Đây là phương pháp ít xâm nhập, không gây nguy hiểm trong quá trình sử dụng, tuy nhiên cần có hướng dẫn, có phòng lấy đờm và các quy định đảm bảo tiêu chuẩn kiểm soát nhiễm khuẩn lao.
Đức Bảo