
Tác giả Lê Quang Toàn và Tạ Văn Bình – Bệnh viện Nội tiết Trung ương vừa có báo cáo đề tài nghiên cứu “Hiệu quả của lớp học thay đổi lối sống trong dự phòng bệnh đái tháo đường typ2 ở người tiền đái tháo đường”.
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 phường của TP Bắc Ninh là Tiền An, Đáp Cầu, Thị Cầu và Đại Phúc từ năm 2009 đến 2010. Có 106 người trưởng thành tuổi từ 30 – 69 tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là những người mắc tiền đái tháo đường theo tiêu chuẩn Hội đái tháo đường Hoa Kỳ 2004, bao gồm có rối loạn dung nạp glucose khi glucose huyết tương tĩnh mạch 2 giờ sau uống glucose từ 7,8 – 11,0 mmol/L và glucose huyết tương tĩnh mạch lúc đói nhỏ hơn 5,6 mmol/L và/hoặc rối loạn glucose máu lúc đói tĩnh mạch 2 giờ sau khi uống nhỏ hơn 7,8 mmol/L và glucose huyết tương tĩnh mạch lúc đói từ 5,6 – 6,9 mmol/L.
Các tác giả nghiên cứu hướng dẫn đối tượng nghiên cứu thay đổi lối sống được tiến hành thông qua 9 buổi với các nội dung: Khái quát về đái tháo đường; Thay đổi lối sống phòng bệnh đái tháo đường; Hoạt động thể lực phòng bệnh đái tháo đường; mục tiêu, nguyên tắc và đánh giá chế độ dinh dưỡng; Lựa chọn thức ăn; Lập kế hoạch bữa ăn; Giảm cân và tóm tắt những điều cần quan tâm. Mỗi nội dung được tiến hành trong thời lượng 2 giờ với quy mô 14 – 16 người tham gia. Các lớp học được thực hiện hàng tuần trong 9 tuần liên tiếp. Giảng bài, hướng dẫn tại lớp là các cán bộ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương và của các Trạm y tế phường (đã được tập huấn): Phương pháp giáo dục đối tượng tham gia nghiên cứu sử dụng thuyết trình bằng bản trình chiếu power point; hướng dẫn lựa chọn thực phẩm trên mô hình, thực hành đánh giá thể trạng của bản thân và cường độ hoạt động thể lực.
Kết quả nghiên cứu sau can thiệp 6 tháng cho thấy nhóm tuổi tham gia nghiên cứu nhiều nhất là 50 – 59 tuổi, chiếm tỷ lệ 50%; nhóm 40 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ 20,8%; nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 29,2%. Đối với các chỉ số cân nặng, chỉ số khối cơ thể BMI và vòng bụng đều giảm với mức giảm tương ứng là 1,55kg; 0,62kg/m2 và 2,42cm (p<0,001).
Sau 6 tháng can thiệp, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu giảm từ 5% cân nặng ban đầu trở lên chiếm 20,8%; đạt 25,8% ở nhóm đối tượng có tăng chỉ số khối cơ thể BMI trước can thiệp (> 23kg/m2). Đối với thay đổi các tỷ lệ tăng BMI, tăng vòng bụng và hoạt động thể lực từ 150 phút/tuần trở lên, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng BMI và tăng được tỷ lệ vòng bụng giảm có ý nghĩa thống kê; tương tự tỷ lệ hoạt động thể lực > 150 phút/tuần với cường độ từ trung bình trở lên tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp. Đối với kết quả thay đổi về glucose máu, sau 6 tháng can thiệp, glucose huyết tương tĩnh mạch lúc đói và 2 giờ sau uống glucose trong nghiệm pháp dung nạp glucose đều giảm rõ rệt, với mức giảm tương ứng là 0,33 và 2,34 mmol/L (p<0,001). Sau 6 tháng can thiệp, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có glucose trở về bình thường là 55,7%; tỷ lệ đối tượng nghiên cứu vẫn còn tiền đái tháo đường là 41,5% và tỷ lệ chuyển thành đái tháo đường là 2,8%.
Theo tác giả nghiên cứu, trên thế giới có nhiều nghiên cứu can thiệp nhằm chứng minh rằng thay đổi lối sống có hiệu quả dự phòng đái tháo đường với phương pháp nghiên cứu đòi hỏi nguồn lực lớn về nhân lực và tài chính. Đối với nghiên cứu của tác giả đã sử dụng biện pháp phù hợp với thực tế, gọi là nghiên cứu hiện thực hóa (translation study) nhằm áp dụng các kết quả vào thực tế cuộc sống; nghiên cứu có biện pháp thực hiện đơn giản và chi phí thấp. Với phương pháp tiến hành tư vấn, giáo dục nhóm 14 – 16 người, do 2 cán bộ hướng dẫn trong một buổi kéo dài 2 giờ; chi phí sẽ giảm rất nhiều so với tư vấn cá nhân và theo dõi thường xuyên định kỳ. Một điều đáng quan tâm là các kết quả về sự giảm cân, giảm BMI, giảm vòng bụng so với các nghiên cứu trên thế giới tại Phần Lan, Trung Quốc, Mỹ nghiên cứu của tác giả Lê Quang Toàn đều có kết quả hiệu quả can thiệp tương đương; tương tự như vậy kết quả của hoạt động thể lực trung bình cũng đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tác giả nghiên cứu đã có kết luận phòng bệnh đái tháo đường typ2 bằng các lớp giáo dục hướng dẫn về chế độ ăn và luyện tập ở người mắc tiền đái tháo đường sau 6 tháng có hiệu quả làm giảm tình trạng thừa cân/béo phì với tỷ lệ đối tượng giảm đi > 5% cân nặng ban đầu là 20,8% và đạt 25,8% trong nhóm đối tượng nghiên cứu thừa cân/béo phì; cải thiện được tình trạng glucose máu với tỷ lệ glucose máu về bình thường là 55,7% và tỷ lệ chuyển thành đái tháo đường thấp với tỷ lệ 2,8% (sau 6 tháng).
Chúng ta biết rằng, tỷ lệ đái tháo đường typ2 đang gia tăng nhanh nhất là những nước đang phát triển. Việc dự phòng bằng chế độ ăn uống, luyện tập kể cả ở những người có nguy cơ rất cao mắc đái tháo đường là những người mắc tiền đái tháo đường. Thừa cân, béo phì, đặc biệt béo vùng bụng là yếu tố quan trọng gây tăng nguy cơ mắc đái tháo đường typ2; giảm cân và giảm vòng bụng có hiệu quả làm giảm nguy cơ mắc đái tháo đường typ2 rõ rệt. Theo tác giả nghiên cứu, mặc dù với những kết quả đáng khích lệ trong nghiên cứu, tuy nhiên đây là nghiên cứu không có nhóm chứng, vì vậy trong thời gian đến cần có các nghiên cứu tiếp tục để xác định rõ hiệu quả của biện pháp can thiệp dự phòng đái tháo đường đã được áp dụng trong nghiên cứu của tác giả.
Hữu Tráng