
Tác giả Nguyễn Hữu Thắng- Viện đào tạo y học dự phòng và Y tế công cộng- Trường Đại học Y Hà Nội- đã có báo cáo nghiên cứu “Sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế xã tại huyện Bình Lục và Kim Bảng tỉnh Hà Nam”.
Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2012, tại 40 trạm y tế xã, gồm 21 trạm y tế huyện Bình Lục và 19 trạm y tế huyện Kim Bảng. Có 201 cán bộ y tế tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình là 39, tỷ lệ nữ giới chiếm trên 70%. hầu hết cán bộ y tế xã đã có gia đình (89,3%); trình độ y sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất 30,5%; điều dưỡng chiếm 22,5%; bác sĩ chiếm 10,8%. Số cán bộ y tế có thời gian công tác 10 năm chiếm tỷ lệ cao (56,2%); hầu hết cán bộ trong biên chế (88,3%).
Theo tác giả nghiên cứu, sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế là một cấu trúc đa chiều gồm nhiều yếu tố: sự hỗ trợ của đồng nghiệp và lãnh đạo, đội hình làm việc và trao đổi thông tin, yêu cầu công việc và quyền ra quyết định, đặc điểm của cơ quan, tổ chức, chăm sóc người bệnh, lương và phúc lợi, đào tạo và phát triển nhân viên, ấn tượng chung về cơ quan, tổ chức, Kết quả nghiên cứu cho thấy, cán bộ y tế hài lòng với công việc ở mức độ trung bình với tỷ lệ 80.9%; tỷ lệ cán bộ y tế đạt mức hài lòng cao đối với công việc chiếm 16,4%; hài lòng thấp chỉ có 2,7%. Tác giả cũng cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hài lòng của cán bộ y tế với các yếu tố như giới, nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, thời gian công tác, thu nhập trung bình/tháng, được tập huấn đào tạo trong năm qua. Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế xã được tìm thấy với một số yếu tố như trình độ chuyên môn, người sống phụ thuộc và phân loại lao động; cán bộ y tế là y sĩ hài lòng gấp 3 lần cán bộ y tế là bác sĩ. Theo tác giả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng theo yếu tố giới tính, tuy nhiên vì nữ giới chiếm phần lớn trong nghề y, vì vậy khi nhận xét nhu cầu khác nhau của nhân viên y tế nữ cần chú ý những yếu tố thúc đẩy động cơ làm việc; làm việc bán thời gian hay linh hoạt, nghỉ phép hoặc nghỉ lễ linh động, những vấn đề chăm sóc con cái, học tập của con…là những yếu tố động viên quan trọng đối với nguồn lao động nữ.
Tác giả nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế của nghiên cứu là do địa điểm nghiên cứu là hai huyện thuộc đồng bằng sông Hồng, vì vậy kết quả nghiên cứu không phản ánh cho các vùng địa lý, bối cảnh văn hóa xã hội, kinh tế khác nhau trong toàn quốc. Nghiên cứu đơn thuần là định lượng vì vậy chưa đi sâu phân tích được nguyên nhân của sự chưa hài lòng. Tác giả nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cải thiện mức độ hài lòng đối với công việc của các cán bộ đang công tác tại trạm y tế; các nhà quản lý cần hoàn thiện quy chế cơ quan, chế độ khen thưởng cho phù hợp, có giải pháp tăng thêm thu nhập ngoài lương và cơ hội thăng tiến cho cán bộ. Một giải pháp rất quan trọng nữa là cần có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ đang công tác tại trạm y tế xã.
Chúng ta biết rằng, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế. Sự hài lòng đối với công việc là yếu tố quan trọng có ảnh hướng tới chất lượng và hiệu suất công việc, đặc biệt đối với công việc của cán bộ y tế vì đây là công việc nhạy cảm chăm sóc sức khỏe liên quan đến tính mạng con người. Trong thời quan qua, có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại các bệnh viện, đối với các đối tượng bác sĩ, điều dưỡng, đối với cán bộ y tế làm việc tại trạm y tế xã, các nghiên cứu này còn rất ít.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thắng là nghiên cứu áp dụng phương pháp thông qua bộ câu hỏi tự điền về sự hài lòng của Paul E. Speetor bao gồm 9 yếu tố: tiền lương, sự thăng tiến, đồng nghiệp- giám sát của cấp trên, quy chế của cơ quan, phúc lợi ngoài lương, khen thưởng; quy chế công việc và thông tin nội bộ. Thang đo mức độ hài lòng được tham khảo theo thang điểm Likert, 4 mức độ “hoàn toàn không đồng ý”, “Không đồng ý”, “đồng ý” và “hoàn toàn đồng ý”.
Đức Bảo