
Giáo sư Lê Vũ Anh – Chủ tịch Hội Y tế Công cộng Việt Nam cùng cộng sự đã có báo cáo “Tổng quan hoạt động xây dựng, thực thi chính sách và công trình nghiên cứu khoa học về người cao tuổi Việt Nam” nhấn mạnh thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 chứng kiến cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ, gắn liền với sự giảm nhanh tỷ lệ sinh, làm cho tỷ lệ người cao tuổi trong cơ cấu dân số ngày càng tăng mạnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Việt Nam, qua 3 đợt điều tra mức sống dân cư vào năm 1999, 2004 và 2006 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên tăng cao hơn dự báo. Năm 1999 tỷ lệ điều tra người cao tuổi là 8%, năm 2004 tăng lên 9,92%, năm 2006 tăng lên 10,4%. Người cao tuổi nữ tăng cao hơn nam; 12,0% người cao tuổi nữ so với 8,7% người cao tuổi nam. Người cao tuổi ở nông thôn tăng cao gần bằng thành phố (10,3%). So sánh với Thái Lan, tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam đã gần với tỷ lệ của Thái Lan, dự báo đến năm 2030 dân số người cao tuổi Việt Nam sẽ tăng đến 20% và 2050 là 29,4%. Tuổi thọ trung bình người Việt Nam đã đạt 72 tuổi cao hơn so với Philippines là 70 tuổi.
Đối với sự phát triển chính sách người cao tuổi Việt Nam, giai đoạn năm 2000-2009, ban hành Pháp lệnh về người cao tuổi năm 2000 và kế hoạch hành động quốc gia về người cao tuổi năm 2005-2010. Sau đó Chính phủ đã ban hành 07 Nghị định, trong đó Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26/3/2002 của Chính phủ về quy định và hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh; Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có người cao tuổi. Luật người cao tuổi có hiệu lực về năm 2010, Chính phủ các Bộ, ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật về người cao tuổi. Từ năm 2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 141/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban quốc gia về người cao tuổi với nhiệm vụ điều phối hoạt động của các Bộ, ngành và Hội người cao tuổi. Phó Chủ tịch ủy ban là Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Chủ tịch Hội người cao tuổi.
Tổ chức Y tế thế giới đã chia 7 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi gồm nhóm yếu tố môi trường, văn hóa, quyền con người, yếu tố giới; nhóm yếu tố môi trường ngoại cảnh gồm môi trường vật lý, nhà ở, vấp ngã, nước sạch, không khí, vệ sinh an toàn thực phẩm; nhóm yếu tố môi trường xã hội gồm sự hỗ trợ xã hội, vai trò của nhà nước, tổ chức Hội người cao tuổi, bạo lực và lạm dụng, giáo dục và học tập; nhóm các yếu tố kinh tế gồm thu nhập, an toàn và an sinh xã hội, lao động, công việc; nhóm dịch vụ y tế và xã hội gồm nâng cao sức khỏe và phòng bệnh, dịch vụ khám chữa bệnh, điều trị lâu dài, chăm sóc sức khỏe tinh thần; nhóm yếu tố hành vi gồm sử dụng thuốc lá, tập luyện thể dục thể thao, ăn uống, chăm sóc răng, rượu bia, chỉ định sử dụng thuốc, tác dụng phụ điều trị bệnh và không tuân thủ điều trị; nhóm yếu tố cá thể gồm sinh học và gen, tâm lý. Thực tế người cao tuổi đang sử dụng dịch vụ y tế tư nhân khá cao; các chính sách về yếu tố môi trường nhà ở, phòng tránh tai nạn thương tích, yếu tố về giới vẫn còn thiếu. Đối với sự thay đổi hệ thống y tế của Việt Nam, mô hình y tế huyện tách, nhập Trung tâm Y tế, Phòng Y tế đã tác động mạnh đến công tác quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu; dịch vụ khám chữa bệnh tuyến Trung ương quá tải, tuyến cơ sở trình độ chuyên môn, trang thiết bị hạn chế do vậy sự tiếp cận với y tế chuyên sâu của người cao tuổi ở nông thôn, vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn. Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi rất yếu kém, trong khi tỷ lệ bệnh trầm cảm, kém trí nhớ rất cao. Hiện nay vẫn còn ít nghiên cứu khoa học tập trung vào yếu tố hành vi của người cao tuổi về thuốc lá, lạm dụng rượu bia và vấn đề sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị. Ngoài ra các nghiên cứu liên quan đến vai trò của người cao tuổi và những đóng góp cho gia đình và xã hội và những gợi ý làm thế nào để người cao tuổi đóng góp nhiều hơn cho xã hội đang còn thiếu.
Một báo cáo tình hình sức khỏe, bệnh tật người cao tuổi trong 5 năm của Ủy ban quốc gia người cao tuổi Việt Nam cho thấy chỉ hơn 5% người cao tuổi có sức khỏe tốt, gần 23% có sức khỏe kém, 95% người cao tuổi bị mắc các bệnh cả cấp và mạn tính. Theo báo cáo một người cao tuổi trung bình mắc 2,69 loại bệnh. Những bệnh người cao tuổi hay mắc phải bao gồm bệnh tim mạch, bệnh mạch vành, suy tim, tăng huyết áp; bệnh cơ xương khớp, thoái hóa khớp, loãng xương; nhóm bệnh thần kinh sa sút trí tuệ, bệnh Parkinson; nhóm bệnh nội tiết chuyển hóa như rối loạn mỡ máu, tiểu đường, béo phì; nhóm bệnh về giác quan như đục thủy tinh thể, nhìn kém, nghe kém; ngoài ra tỷ lệ người cao tuổi bị khuyết tật chức năng hoặc không tự chăm sóc chiếm tỷ lệ khá cao (63,8%).
Nghiên cứu đã có kết luận hiện xu hướng dân số người cao tuổi tăng, Việt Nam phải đối mặt với sự già hóa dân số, tỷ lệ người cao tuổi ở nông thôn tăng nhanh và đạt xấp xỉ với tỷ lệ người cao tuổi ở thành phố; nhóm tác giả đã đưa ra các khuyến nghị như cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ dự phòng và điều trị lâu dài các bệnh không lây nhiễm ở người cao tuổi; xây dựng các chương trình, mô hình chăm sóc người cao tuổi phù hợp với văn hóa Việt Nam, đặc biệt những chương trình, mô hình huy động những người cao tuổi khỏe mạnh tham gia vào những hoạt động có ích cho cộng đồng để tăng cường chất lượng cuộc sống của những người cao tuổi này. Xây dựng mạng lưới chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi bao gồm cả sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội, đồng thời phát huy tối đa vai trò và lợi thế của người cao tuổi trong xã hội./.
Minh Tâm