Tại Hội nghị 20 năm điều trị HIV/AIDS do Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế tổ chức vào tháng 12/2019, ông Vũ Ngọc Bảo - Tổ chức USAID/PATH tại Việt Nam đã có bài trình bày “Nghiên cứu thí điểm PrEP tại TP Hồ Chí Minh: Những phát hiện chính và khuyến nghị”
Từ tháng 3/2016, Việt Nam đã có Hội thảo đầu tiên về kỹ thuật quốc gia, thảo luận với cộng đồng về PrEP; đến tháng 3/2017 thực hiện thí điểm đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh.. Đến tháng 2/2019, hoàn thành quy trình kỹ thuật (SOPs), tài liệu đào tạo và sau đó mở rộng PrEP tại 11 tỉnh trong dự án PEPFAR và Quỹ Toàn Cầu. Để có những bước đi đó, Tổ chức USAID/PATH đã thực hiện nghiên cứu về PrEP tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 10/2017.
Theo ông Vũ Ngọc Bảo, đây là nghiên cứu thuần tập quan sát khách hàng sử dụng PrEP trong thời gian 18 tháng; quần thể nghiên cứu là 1.069 khách hàng MSM, 62 người chuyển giới nữ (TGW) và 211 cặp bạn tình dị nhiễm (DC).
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 phòng khám tư nhân cộng đồng và 4 phòng khám công tại Quận 1, Quận 8, Quận 11 và Quận Thủ Đức. Thu thập số liệu đối tượng nghiên cứu qua phiếu sàng lọc hành vi nguy cơ, bệnh án ngoại trú, bộ câu hỏi phỏng vấn vào tháng 0,6,12 và 18 so với thời điểm nghiên cứu; bộ câu hỏi do khách hàng tự điền vào tháng 3,9 và 15; khảo sát ngừng PrEP do khách hàng tự điền.
Ông Vũ Ngọc Bảo báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 26, trình độ học vấn Đại học/Cao đẳng chiếm 78,6%, trình độ trung học phổ thông lớp 10-12 chiếm 17,8%, mức thu nhập hàng tháng của đối tượng nghiên cứu là 7,1 triệu VNĐ, tỷ lệ có bảo hiểm y tế chiếm 81,7%. Kết quả khảo sát tỷ lệ duy trì sử dụng PrEP đối với nhóm MSM; tháng đầu tiên của nghiên cứu (tháng 0) là 100%; tháng 3 là 88,7%, tháng 12 giảm còn 68,8%, tháng 18 giảm còn 46,6%. Đối với nhóm chuyển giới nữ tháng 3 tỷ lệ này là 87,1%; đến tháng 18 giảm còn 52,8%; điều phát hiện nữa là tỷ lệ duy trì PrEP có sự khác nhau đáng kể giữa các phòng khám; sau 18 tháng, có phòng khám cộng đồng giảm ở mức thấp nhất là dưới 40%, còn phòng khám ngoại trú công giảm nhưng cao hơn 50%.
Về lý do ngừng sử dụng PrEP, lý do có tỷ lệ cao nhất là không có đủ tiền để mua thuốc PrEP (22,5%); lo ngại bị kỳ thị, phân biệt đối xử/sợ hãi, xấu hổ nếu bị nhận ra đang sử dụng PrEP chiếm tỷ lệ 17,8%; bạn tình yêu cầu dừng không sử dụng PrEP chiếm 13,1%; cho rằng hết nguy cơ nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 15,2%. Còn những lý do khác có tỷ lệ thấp hơn là do PrEP không có sẵn; lo ngại tác dụng lâu dài của việc sử dụng PrEP; tác dụng phụ của PrEP; phát sinh những vấn đề sức khỏe khi sử dụng PrEP; quá xa nơi khách hàng sinh sống; thời gian chờ tại phòng khám lâu; khách hàng sử dụng cách dự phòng khác; đăng ký dùng PrEP tại phòng khám khác và có 0,5% lý do là phát hiện nhiễm HIV.
Ông Vũ Ngọc Bảo cũng cho biết, đối với hành vi tình dục và nguy cơ của 299 khách hàng MSM dùng PrEP trong 12 tháng nghiên cứu; số bạn tình trung bình là 6,4 người; số lần quan hệ tình dục hậu môn (là người nhận) không dùng bao cao su (trung bình) là 5,4 lần; số lần quan hệ tình dục hậu môn là người cho không dùng bao cao su là 5,4 lần; có mua bán dâm trong 3 tháng qua chiếm 10%; có tiêm chích ma túy trong 3 tháng qua chiếm 1,3%; có sử dụng ma túy tổng hợp (ATS) trong 3 thámg qua chiếm 22,7%; tổng điểm hành vi nguy cơ trung bình là 17,1 điểm. Đối với nhóm chuyển giới nữ kết quả nghiên cứu cho thấy tổng điểm hành vi nguy cơ trung bình là 19,2 điểm, cao hơn so với nhóm MSM.
Kết quả xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu nhiễm giang mai là 26,7%; nhiễm viêm gan C là 0%; nhiễm bệnh lậu là 72,7%.
Kết quả xét nghiệm chức năng thận qua creatinine huyết thanh cho thấy chỉ có 2 trường hợp có kết quả xét nghiệm creatinine bất thường; tại thời điểm 6 tháng nhỏ hơn 60ml/min ở trường hợp 01 MSM, 26 tuổi và tại thời điểm 12 tháng đối với 01 MSM 27 tuổi.
Ông Bảo lưu ý rằng, PrEP được chấp nhận rộng rãi trong nhóm MSM, người chuyển giới nữ và cặp bạn tình dị nhiễm; kết quả nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng có sự gia tăng hành vi nguy cơ khi sử dụng PrEP, với phát hiện chỉ có 2 trường hợp có chỉ số creatinine bất thường và tự điều chỉnh trở lại, câu hỏi đặt ra liệu có phải đo lường creatinine khi dùng PrEP; nhóm MSM có sự tuân thủ và tiếp tục sử dụng PrEP cao, tuy nhiên cần cải thiện chất lượng dịch vụ để khách hàng hài lòng hơn; đối với khách hàng là người chuyển giới nữ cần được hỗ trợ nhiều hơn để tuân thủ sử dụng; cần quan tâm cải thiện sử dụng các dịch vụ bệnh lây truyền qua đường tình dục để giảm tỷ lệ bệnh nhân mắc giang mai./.
Anh Huy