Ung thư vòm mũi họng (Nasopharyngeal Carcinoma-NPC) là ung thư hiếm gặp ở các nước Âu-Mỹ, nhưng lại hay gặp nhất trong các ung thư Tai-Mũi-Họng và đầu cổ ở Việt Nam.

NPC biểu hiện bằng các triệu chứng mượn của Tai, Mũi, hạch cổ to và liệt các dây thần kinh sọ não. Theo RF.Mould đưa ra tỷ lệ viêm tai giữa thanh dịch (Serous Otitis Media) sau xạ trị là 21%. Yi-Ho Young ở Đại học Quốc gia Đài Loan gặp viêm tai giữa ứ dịch (OME) 6 tháng sau xạ trị là 25%, nhưng sau 5 năm tăng lên 40%, trong đó 15% chuyển thành viêm tai giữa mãn tính (COM).
Từ tháng 5/2006 đến tháng 7/2007, nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Trường Phong cùng cộng sự bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương thực hiện nghiên cứu “Một số ảnh hưởng đến màng nhĩ và chức năng nghe của NPC” với hai mục tiêu sau: 1. Triệu chứng cơ năng và thực thể của tai trong NPC. 2. Ảnh hưởng đến chức năng nghe và sự thông khí của vòi nhĩ.
Có 374 tai trên 187 bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện K tham gia; phương pháp nghiên cứu: Mô tả từng ca, tiến cứu bệnh nhân được chẩn đoán xác định NPC qua lâm sàng nội soi và mô bệnh học tại khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện K và bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung Ương.
Bác sĩ Phong báo cáo phân tích, qua nhiều kết quả nghiên cứu, các tác giả đều công nhận những rối loạn về thông khí của vòi nhĩ gây ra bệnh lý tai giữa với những triệu chứng cơ năng thực thể rất phong phú. Triệu chứng ù tai xuất hiện ở 147 tai (39,3%, 125 người bệnh), sau đó đến nghe kém 89 (23,8%). Cảm giác tiếng óc ách trong tai (6,4%), ở 19 người bệnh khi đến khám. Trong 374 tai thì cảm giác ở tai còn bình thường chiếm 56,4%, không bình thường 43,6%, trong đó có 2 trường hợp bị viêm tai giữa thủng màng nhĩ đang chảy mủ.

Về ảnh hưởng đến chức năng nghe và sự thông khí vòi nhĩ, nghiệm pháp Valsalva và Toynbee. Có hai nghiệm pháp được sử dụng để sơ bộ đánh giá tình trạng thông khí vòi nhĩ là nghiệm pháp Valsalva và Toynbee. Tuy nhiên có 3 trường hợp màng nhĩ thủng và có ba trường hợp người bệnh không phối hợp được để làm nghiệm pháp nên kết quả chỉ tính trong 362 tai của 181 người bệnh. Kết quả thăm dò qua hai nghiệm pháp Valsalva và Toynbee có khác nhau, kết quả làm nghiệm pháp Valsalva (+) là 48,6%, ( + ) là 18,5% và (-) là 32,9%. Nghiệm pháp Toynbee (+) là 26,2%, ( + ) là 35,6% và (-) là 38,4%. So sánh kết quả nghiệm pháp Valsalva có tỷ lệ ( + ) cao hơn (48,6%) so với nghiệm pháp Toynbee (26,2%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,005. Sự khác nhau về kết quả của hai nghiệm pháp có thể liên quan đến đặc điểm cách làm nghiệm pháp, hiện tượng chênh lệch áp lực tạo ra giữa hòm tai và vòm khi làm nghiệm pháp Valsalva sẽ lớn hơn nhiều so với động tác nuốt ở nghiệm pháp Toynbee. Cũng chính vì thế, nghiệm pháp Valsalva còn được coi là biện pháp điều trị tắc vòi và với nghiệm pháp Toynbee có tác giả đưa ra tỷ lệ (+) chỉ chiếm khoảng 70% ở tai bình thường. Dù có khác nhau nhưng kết quả thăm dò của hai nghiệm pháp trong nghiên cứu cũng cho thấy có biểu hiện rối loạn TKVN ở những tai của người bệnh.
Đối với tổn thương về thính lực cho thấy nhóm PTA 20 – 30 dB chiếm tỷ lệ cao nhất 41,98% sau đó nhóm < 20 dB. Nếu theo phân loại nghe kém của ISO tai bình thường có thính lực từ 0 đến 29 dB thì nhóm có kết quả thính lực < 30 dB chiếm tỷ lệ 77,3%. Trong nhóm còn lại gồm 289 tai chiếm 22,7%, trong đó nhóm 31 – 40 dB là 16,6%; nhóm 41-50 dB có 4,81% và nhóm 51-60 dB có 1,3%. Nghiên cứu không gặp trường hợp nào PTA > 60 dB. Như vậy nhóm thính lực > 30 dB chiếm 22,7% và có tỷ lệ cao nhất vào nhóm 31-40 dB sự khác biệt giữa nhóm này với các nhóm khác có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ này cũng phù hợp với kết quả nhĩ đồ. Trong nghiên cứu có một số trường hợp có PTA đến 51-60 dB, là những trường hợp đều có rối loạn TKVN và nhĩ đồ dạng III-IV. Khi khai thác tiền sử có 2 người bệnh nghe kém từ trước, gần đây có cảm giác nghe kém hơn, nhưng cũng không có kết quả đo thính lực trước đây. Những trường hợp này có thể có bệnh lý tai khác phối hợp trên một viêm tai giữa ứ dịch xẹp nhĩ do NPC.
Tác giả nghiên cứu có kết luận: Triệu chứng ù tai (39,3%) và nghe kém (23,8%), viêm tai chảy mủ 3 (0,8%). Màng nhĩ đục mất nón sáng: 17,7%, có dịch, túi co kéo 1,6%. Nghiệm pháp Valsalva (+) chiếm 48,6%, ( + ) 18,6%, và (-) 32,9%, nghiệm pháp Toynbee cho kết quả dương tính (+) chiếm 26%, ( + )25,7% và (-) là 48,3%. PTA trong khoảng 20-30 dB chiếm 42%; nhóm 31-40 dB là 16,6%; nhóm 41-50 dB là 4,8%; nhóm 51-60 dB là 1,3%; sức nghe tốt < 20 dB chiếm 35,3%.
Hữu Lai