Dị ứng thuốc là một phản ứng bất lợi do dùng thuốc, là hậu quả của phản ứng kháng nguyên – kháng thể trong đó thuốc có thể là kháng nguyên trực tiếp, gián tiếp thông qua các sản phẩm chuyển hóa (pro-hapten) hoặc kết hợp với protein của cơ thể để mang tính kháng nguyên (hapten).
Dị ứng thuốc không phụ thuộc vào liều lượng thuốc, và có thể có tính mẫn cảm chéo. Trong các loại thuốc gây dị ứng, kháng sinh là nhóm chiếm tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ dị ứng thuốc ngày càng gia tăng trong vòng 5 năm từ 24,6% (2009) đến 62,3% (2013). Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn tại Trung tâm Dị ứng-Miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ dị ứng kháng sinh tăng gấp 4 lần giữa hai giai đoạn (1981-1992) và (1992-2003). Hình thái dị ứng thuốc ở trẻ em khá đa dạng. Biểu hiện dị ứng có thể xảy ra ngay sau dùng thuốc hoặc sau vài ngày, vài tuần. Triệu chứng lâm sàng của dị ứng có thể là ngứa, đỏ da, mày đay,… Trong các loại hình dị ứng, nguy hiểm nhất là shock phản vệ.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Diệu Thúy cùng cộng sự Đại học Y Dược Thái Bình, Đại học Y Hà Nội, thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh nhân dị ứng kháng sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương” nhằm tìm các dấu hiệu gợi ý tình trạng dị ứng ở trẻ em.
Đối tượng nghiên cứu là 60 bệnh nhân nghi ngờ dị ứng kháng sinh điều trị nội trú tại khoa Miễn dịch – Dị ứng – Khớp tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2014-2016. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Tất cả các bệnh nhân nghi ngờ dị ứng kháng sinh được xác định qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng từ 1 tháng – 15 tuổi. Bệnh nhân và gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán dị ứng các thuốc khác không phải kháng sinh. Phát ban loại trừ nguyên nhân do dị ứng. Bệnh nhân và gia đình không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thúy, phân tích báo cáo nghiên cứu, tuổi hay gặp nhất là nhóm trẻ từ 0-5 tuổi (80%). Điều này có thể giải thích được vì đặc điểm bệnh lý trẻ em của nhóm trẻ từ 1 tháng-5 tuổi chủ yếu là các bệnh lý nhiễm khuẩn, do các cơ quan đang phát triển và hoàn thiện dần, hệ thống miễn dịch chưa hoàn chỉnh, nên trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, do vậy nhu cầu dùng kháng sinh điều trị cho trẻ nhiều hơn các nhóm tuổi khác và như vậy số trẻ nghi ngờ dị ứng với kháng sinh sẽ nhiều hơn.
Giới: Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ trẻ nam dị ứng cao hơn trẻ nữ. Tỷ lệ nam/nữ là 2,12/1. Nghiên cứu Nguyễn Văn Đoàn chỉ ra tỷ lệ dị ứng giữa nam và nữ là tương đương nhau. Thực tế đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, với các bệnh lý nhiễm trùng như viêm đường hô hấp trên, viêm phổi là chủ yếu. Mà đối tượng này tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp thường có tỷ lệ nam mắc cao hơn nữ.
Về tiền sử dị ứng của bệnh nhân: Trong nghiên cứu, số lượng trẻ không có tiền sử dị ứng chiếm tỷ lệ cao (50%), trẻ có tiền sử dị ứng gia đình (35%), tiền sử dị ứng bản thân (13,3%), có tiền sử dị ứng cả bản thân và gia đình (1,7%). Theo Nguyễn Văn Đoàn tỷ lệ có tiền sử dị ứng ở bệnh nhân dị ứng thuốc là 10,1%. Ở trẻ em trong nghiên cứu, chủ yếu nhóm 1 tháng-5 tuổi do đó thời gian tiếp xúc với các yếu tố mẫn cảm còn chưa nhiều, vì vậy tiền sử dị ứng bản thân thấp.
Về tiền sử dị ứng gia đình: Theo Anne và Reiman, nếu cả bố và mẹ bị bệnh dị ứng thì tỷ lệ sinh con ra mắc bệnh dị ứng là 75%, nếu chỉ bố hoặc mẹ thì tỷ lệ này là 50%, nếu bố mẹ không bị dị ứng thì tỷ lệ này là 3,5%. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có tiền sử gia đình bị các bệnh dị ứng là 35%. Nghiên cứu của Phan Quang Đoàn điều tra tình hình dị ứng thuốc trên 2852 người tại Hà Nội, kết quả cho thấy những người có tiền sử bị bệnh dị ứng thì nguy cơ bị dị ứng thuốc cao gấp 4 lần người bình thường.
Về thời gian xuất hiện triệu chứng trên lâm sàng: thời gian xuất hiện triệu chứng của bệnh nhân rất đa dạng, trong nghiên cứu thời gian xuất hiện triệu chứng sau 30 phút đầu tiên khi tiếp xúc với thuốc là 28,3% và sau 1-7 ngày là 26,6%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên sau khi dùng thuốc từ 1-7 ngày là 40,6%. Thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên sau khi dùng thuốc sớm hay muộn phụ thuộc vào loại hình đáp ứng miễn dịch của từng bệnh nhân. Trong phản ứng đáp ứng miễn dịch dịch thể do IgE đảm nhiệm, phản ứng xảy ra nhanh (loại hình tức thì) bao gồm các phản ứng liên quan đến kháng thể typ I. Trong nghiên cứu này hầu hết bệnh nhân sử dụng thuốc theo đường tiêm (68,4%). Như chúng ta đã biết thì trong loại hình dị ứng tức thì, kháng thể IgE lưu hành trong huyết thanh có vai trò hết sức quan trọng và có tính chất quyết định, trong khi loại hình dị ứng chậm có vai trò của miễn dịch qua trung gian tế bào lại đóng vai trò quan trọng. Những trường hợp sử dụng thuốc tiêm, nguy cơ gây ra những phản ứng tức thì cao hơn so với trường hợp dùng đường uống vì khi dùng thuốc qua đường tiêm, thuốc nhanh chóng tiếp xúc với kháng thể lưu hành và gây ra những phản ứng tức thì. Với những trường hợp dùng thuốc uống phải có thời gian hấp thu, chuyển hóa và vận chuyển để tiếp xúc với tế bào lympho đã mẫn cảm sau đó mới xảy ra phản ứng giữa kháng nguyên (thuốc) với kháng thể (lympho đã mẫn cảm) gây ra một loạt các phản ứng hóa học và giải phóng các lymphokine, gây nên bệnh cảnh lâm sàng của dị ứng muộn. Điều này giải thích tại sao đường tiêm hay gây ra loại hình dị ứng nhanh và đường uống hay gây ra loại hình dị ứng chậm. Kết quả nghiên cứu phù hợp với nhận xét của Nguyễn Văn Đoàn. Các tác giả đều thống nhất cho rằng thuốc đường tiêm gây ra các bệnh của loại hình dị ứng nhanh, thuốc đường uống thường gây ra các bệnh loại hình dị ứng chậm. Tuy nhiên khi dùng thuốc theo đường uống cũng có thể gây ra loại hình dị ứng nhanh và dùng thuốc theo đường tiêm cũng có thể gây ra loại hình dị ứng chậm.
Thể lâm sàng và mối liên quan tới tuổi: Các dấu hiệu sớm nghi ngờ do dị ứng sau khi bệnh nhân dùng thuốc thường gặp là ngứa, mày đay, đỏ da,… các triệu chứng này có thể kéo dài suốt quá trình bị bệnh đến khi bệnh nhân khỏi. Nhưng cũng có thể các triệu chứng này chỉ có tính chất báo hiệu cho một bệnh cảnh lâm sàng tiếp theo của dị ứng kháng sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng mày đay gặp ở 50% bệnh nhân, shock phản vệ gặp ở 33,3% bệnh nhân, đỏ da là 15% và hồng ban nhiễm sắc cố định là 1,7%. Trong các thể lâm sàng thì thể nặng nề nhất chính là shock phản vệ, nó đe dọa đến tính mạng người bệnh, cũng là nổi ám ảnh đối với những người thầy thuốc và sự lo lắng của gia đình người bệnh.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, dị ứng kháng sinh là vấn đề thường gây lo lắng cho bệnh nhân và bác sĩ. Phát hiện sớm các triệu chứng lâm sàng giúp các bác sĩ có hướng xử trí kịp thời các trường hợp nghi ngờ dị ứng thuốc.
Ngô Thanh