[Đăng ngày: 24/01/2019]
Theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong các bệnh tạo nên gánh nặng bệnh tật toàn cầu và là nguyên nhân gây mất khả năng lao động được dự báo đứng hàng thứ hai vào năm 2020. 

Ở Việt Nam, theo điều tra dịch tễ về rối loạn trầm cảm trên toàn quốc, có khoảng 3,2-5,6% dân số mắc bệnh này. Việc điều trị trầm cảm đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian, kết hợp sử dụng các liệu pháp khác nhau như: liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa dược, liệu pháp sốc điện. Trong đó liệu pháp hóa dược vẫn được coi là liệu pháp điều trị chính. Trên thực tiễn lâm sàng, các thuốc chống trầm cảm với nhiều cơ chế cho hiệu quả cao trong điều trị nhưng cũng có nhiều tác dụng không mong muốn xảy ra do cách lựa chọn thuốc sử dụng, thuốc sử dụng với liều cao và thời gian dùng thuốc chưa phù hợp. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng quát chung về những tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm đối với các bệnh nhân trầm cảm đang được điều trị bằng các liệu pháp hóa dược khác nhau.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Tuấn cùng cộng sự trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai”.

Đối tượng nghiên cứu là 65 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo tiêu chuẩn ICD 10 điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai từ 02/2014 – 07/2014 thõa mãn các tiêu chuẩn loại trừ sau: bệnh nhân chuyển khoa khác trong quá trình điều trị, bệnh nhân không tuân thủ điều trị, bệnh nhân có tổn thương thực thể tại não. 

Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Các công cụ nghiên cứu bao gồm: Tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10; bệnh án nghiên cứu (theo một mẫu bệnh án thống nhất); bộ câu hỏi phỏng vấn thu thập thông tin được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10. Trong suốt quá trình điều trị: ghi nhận các biến cố bất lợi có thể gặp phải trên bệnh nhân. Nếu lựa chọn sử dụng thuốc ban đầu, thay đổi thuốc sử dụng, liều sử dụng thuốc, thời điểm dùng thuốc phù hợp tuân theo khuyến cáo trong hướng dẫn điều trị của hiệp hội trầm cảm Hoa Kỳ (2009) và hướng dẫn sử dụng thuốc, ghi nhận là “Phù hợp”. Các trường hợp còn lại ghi nhận là “Không phù hợp”.

Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn phân tích báo cáo, bệnh nhân cao tuổi nhất là 70 tuổi, thấp tuổi nhất là 12 tuổi, tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 42,02 + 16,48 tuổi. Số lượng bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với số lượng bệnh nhân nam, tỷ lệ nữ/nam là 40/25 + 1,6/1. Bệnh nhân có người nhà (quan hệ huyết thống 3 đời) mắc trầm cảm, chiếm tỷ lệ 6,15%, còn đại đa số các bệnh nhân không có ai trong gia đình mắc trầm cảm (93,85%). Trong 65 bệnh nhân nghiên cứu, có 20 bệnh nhân (chiếm 30,77%) có sử dụng rượu, 17 bệnh nhân (chiếm 26,15%) có sử dụng thuốc lá và 2 bệnh nhân (3,08%) có sử dụng chất gây nghiện.

Bác sĩ Tuấn cho biết, việc lựa chọn thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân khi nhập viện phụ thuộc rất nhiều yếu tố như độ tuổi, tình trạng bệnh, đáp ứng với thuốc điều trị trước đó, các bệnh lý mắc kèm, cân nhắc tác dụng không mong muốn có thể gặp. Điều này đòi hỏi kiến thức, cũng như kinh nghiệm lâm sàng của người thầy thuốc. 

Theo hướng dẫn điều trị của hiệp hội trầm cảm Hoa Kỳ (2009), với hầu hết bệnh nhân, lựa chọn tối ưu ban đầu là SSRI, SNRI, mirtazapin hoặc bupropion. Tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai, các bác sĩ cũng đã cập nhật xu hướng điều trị trên thế giới, đa số lựa chọn thuốc phù hợp với khuyến cáo được đưa ra, với tỷ lệ lựa chọn thuốc phù hợp trên bệnh nhân mới mắc trầm cảm là 85,29% và trên bệnh nhân trầm cảm tái diễn là 80,65%. Với bệnh nhân lựa chọn thuốc không phù hợp chủ yếu là được kê đơn amitriptylin. Điều này là do thói quen sử dụng và giá thành của thuốc chống trầm cảm ba vòng còn rẻ hơn rất nhiều so với các thuốc chống trầm cảm mới. Mặt khác trên bệnh nhân trầm cảm tái diễn, đôi khi bác sĩ còn chưa chú ý đến tiền sử sử dụng và đáp ứng với thuốc trước đó, dẫn đến việc lựa chọn thuốc không phù hợp trên bệnh nhân.

Tỷ lệ thay đổi thuốc phù hợp theo khuyến cáo của hiệp hội trầm cảm Hoa Kỳ (2009) là 83,08%. Theo khuyến cáo của hiệp hội trầm cảm Hoa Kỳ (2009), trên bệnh nhân không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với điều trị, sau 2-4 tuần, xem xét tăng liều điều trị. Đánh giá lại đáp ứng sau 4 tuần điều trị, xem xét thay đổi thuốc điều trị ban đầu. Ngoài ra có thể xem xét thay đổi thuốc trên bệnh nhân gặp các tác dụng không mong muốn ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Tại Viện sức khỏe tâm thần, các bác sĩ còn ít chú ý đến thời điểm thay đổi thuốc phù hợp với khuyến cáo, mà chủ yếu thay đổi dựa trên kinh nghiệm điều trị. Do vậy, thời điểm thay đổi thuốc chủ yếu diễn ra ngay sau tuần đầu tiên hoặc tuần thứ hai điều trị với tỷ lệ thay đổi thuốc không phù hợp là 16,92%.

Bác sĩ Tuấn có kết luận, lựa chọn thuốc ban đầu là phù hợp trên 85,29% bệnh nhân mới mắc trầm cảm và 80,65% bệnh nhân rối loạn trầm cảm. Việc thay đổi thuốc điều trị phù hợp trên 83,08% bệnh nhân. Bệnh nhân được kê đơn với mức liều vào thời điểm dùng thuốc phù hợp là 98,46%.
Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 102

Số lượt truy cập: 9294635

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang