[Đăng ngày: 17/11/2016]
Chăm sóc thai kỳ ở phụ nữ có thai là điều cần được quan tâm. Chăm sóc thai kỳ nên được thực hiện trước khi có thai để có thể phát hiện và điều trị bệnh nội khoa, hay bệnh phụ khoa, làm một số xét nghiệm cần thiết, tiêm ngừa nếu không có miễn dịch trước khi mang thai ít nhất 1 tháng, uống acid folic trước có thai tối thiểu 1 tháng và được tư vấn vấn đề dinh dưỡng, để có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh đồng thời đảm bảo sức khỏe cho người mẹ.
Theo các bác sĩ sản khoa người phụ nữ trước khi mang thai nên chú ý thực hiện những điều sau:
    1. Những thuốc đang dùng có cần thay đổi khi mang thai. Nếu trước khi mang thai đang sử dụng bất kỳ loại thuốc nào, nên tư vấn bác sĩ để xác định liệu có an toàn trong thời kì mang thai không. Trong vài trường hợp, bác sĩ sẽ cần thay đổi thuốc hoặc cần giảm liều cho đến khi ngưng hẳn. Đặc biệt là các loại thuốc về điều trị động kinh, cao huyết áp, lupus, viêm đa khớp dạng thấp… và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, thông báo cho bác sĩ (không phải chuyên khoa Sản) biết đang có thai. Không có chứng cứ dị tật thai do thuốc ngừa thai uống hay cấy, kể cả dụng cụ tử cung.
    2. Kiểm tra những loại vắc xin đã chích còn hiệu lực: Sởi, quai bị, rubella, uốn ván, bạch hầu, ho gà, thủy đậu và viêm gan siêu vi A, B, viêm phổi do phế cầu, viêm màng não. Đa phần phụ nữ đều được tiêm khi còn nhỏ nên điều quan trọng là phải kiểm tra xem có kháng thể không. Nếu kháng thể không đủ để bảo vệ thì khi mang thai thai phụ có khả năng mắc bệnh và ảnh hưởng đến thai nhi. Tất cả phụ nữ nên chích ngừa cúm mỗi năm, một vài loại kháng nguyên không thể chích trong thai kỳ nên cần phải chích vắc xin ít nhất là 1 tháng trước khi mang thai.
Vắc xin sởi, quai bị, rubella: nếu thai phụ không có miễn dịch thì nên tiêm trước khi mang thai ít nhất 1 tháng, nếu thai phụ mắc bệnh sớm trong thai kỳ thì có thể gây ra sẩy thai. Nhiễm rubella có thể gây ra nhiều dị tật như điếc, tổn thương ở mắt, tim và não. Nếu thai phụ nhiễm trong nửa sau của thai kỳ thì ít gây ra những tổn thương này.
Vắc xin thủy đậu: Nhiễm thủy đậu trong suốt thai kỳ đặc biệt là giai đoạn sớm làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh. Nếu thai phụ nhiễm thủy đậu có thể gây ra một số biến chứng như viêm phổi. Do đó cần tiêm vắc xin ít nhất 1 tháng trước khi mang thai. Nếu thai phụ không có miễn dịch mà phơi nhiễm với một người nhiễm thủy đậu thì phải đến bệnh viện sớm nhất có thể để được điều trị với Globulin miễn dịch chống thủy đậu (VariZIG) trong vòng 10 ngày phơi nhiễm, sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm thủy đậu.
Vắc xin HPV: được khuyến cáo cho những bé gái từ 9-26 tuổi, không được khuyến cáo cho phụ nữ mang thai vì mức độ an toàn không được nghiên cứu. Nếu phụ nữ đang tiêm ngừa HPV khi có ý định có thai sẽ tạm ngưng tiêm ngừa HPV đến sau sinh.
    3. Uống đa vitamin như B12. Liều mỗi ngày thấp nhất là 400μg. Vitamin B12 giúp ngăn ngừa dị tật bẩm sinh ở thai như khiếm khuyết ống thần kinh. Không nên uống quá nhiều một số vitamin trong thai kỳ đặc biệt là vitamin A (không nên quá 5.000 IU/ngày, nguy cơ dị tật thai nhi > 10.000 IU/ngày), nên hỏi ý kiến bác sĩ về vitamin để chắc an toàn cho thai kỳ. Uống bổ sung viên sắt và acid folic 400μg hàng ngày ít nhất trong 3 tháng trước khi có thai và viên đa vi chất để đề phòng chống thiếu máu do thiếu sắt và thiếu vi chất.
    4. Không nên ăn những thức ăn sống, cá mập, cá ngừ, cá kiếm vì có chứa lượng thủy ngân cao.
    5. Giới hạn lượng café uống vào không được quá 1-2 ly mỗi ngày, trà và coca cũng chứa cafein nhưng không nhiều bằng café.
6. Cố gắng bữa ăn với trái cây, rau và gạo. Rửa sạch rau và trái cây trước khi ăn.
    7. Nếu có sử dụng cần ngưng thuốc lá, rượu
    8. Hiểu rõ nguy cơ cho thai phụ và con nếu có bệnh lý: đái tháo đường, cao huyết áp, hen suyễn, bệnh lý tuyến giáp, động kinh, HIV và một số bệnh lý khác. Nếu thai phụ và chồng có bệnh lý di truyền nào đó thì nên tư vấn di truyền học. Ví dụ: Nhược cơ, rối loạn tâm thần, bệnh xơ nang.
    9. Đạt đến mức cân nặng tốt nhất. Chỉ số khối cơ thể BMI > 30 hay < 20 có thể quá trình mang thai không tốt. Nếu béo phì nên giảm cân trước khi có thai. Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ cho phụ nữ trước khi có thai. Thực hiện chế độ ăn hợp lý, đa dạng, đủ 4 nhóm thực phẩm (đạm, mỡ, đường, vitamin và muối khoáng) nhằm đạt chỉ số khối cơ thể bình thường từ 18,5-24 hoặc có cân nặng ít nhất là trên 40kg.
    10. Thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng nhằm xác định: Các yếu tố di truyền do đột biến nhiễm sắc thể hoặc đột biến đơn gen, bệnh Thalasemia… có thể gây sẩy thai, thai chết lưu và các dị tật bẩm sinh đặc biệt ở các cặp vợ chồng lớn tuổi hoặc quá trẻ tuổi, những người tiếp xúc với môi trường hóa chất độc hại, nhiễm chất độc da cam, sử dụng dược phẩm (các thuốc an thần, chống co giật, chống sốt rét…), mẹ bị nhiễm virus, vi khuẩn, ký sinh trùng… Không tương hợp miễn dịch giữa mẹ và con: yếu tố Rh, nhóm máu ABO… Nếu có vấn đề bất thường thì chuyển đến cơ sở chuyên khoa.
    11. Chủ động đi khám sức khỏe để phát hiện các bệnh mạn tính tiềm ẩn nhằm điều trị bệnh kịp thời (bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thiếu máu, đái tháo đường, viêm gan, viêm thận, lao, động kinh, rối loạn tâm thần, bất thường về cấu trúc hoặc chức năng cơ quan sinh dục…).
    12. Phụ nữ trước khi có thai hiểu được việc cần thiết tẩy giun từ 6 tháng đến 1 năm 1 lần và thực hiện vệ sinh cá nhân (rửa tay xà phòng), vệ sinh môi trường nhằm giảm khả năng tái nhiễm giun trở lại.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 160

Số lượt truy cập: 9297595

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang