{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Giáo dục sức khỏe
Đánh giá các yếu tố nguy cơ của thai kỳ
[Đăng ngày: 15/11/2016]
Chúng ta biết rằng khi người phụ nữ mang thai, sự tạo phôi bắt đầu sớm trong thai kỳ, bánh nhau bắt đầu làm tổ trong tử cung 7 ngày sau thụ thai. Nếu bánh nhau phát triển không tốt sẽ có liên quan đến tiền sản giật, sinh non, thai chậm tăng trưởng trong tử cung và có thể chương trình hóa cho những bệnh mãn tính của thai nhi trong tương lai. Thai phụ đi khám khi có thai ở 3 tháng đầu thai kỳ thường quá muộn để ngăn những khiếm khuyết của thai cũng như sự phát triển bất thường của nhau.
Theo BSCKII. Phạm Huy Khôi – Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, mục tiêu của tư vấn tiền thai là xác định yếu tố nguy cơ cho mẹ và thai nhi; Giáo dục thai phụ về các yếu tố nguy cơ, sự lựa chọn về các biện pháp can thiệp và quản lý thai kỳ; Bắt đầu can thiệp để đạt được kết cuộc thai kỳ tốt đẹp.
BS. Khôi nhấn mạnh, lý tưởng nhất là người phụ nữ nên đi khám trước khi có thai tối thiểu từ 1 đến 3 tháng, để xem cơ thể có đủ sức khỏe mang thai hay không, nếu có bệnh sẽ được điều trị ổn định trước khi có thai, nếu đang điều trị bác sĩ sẽ thay đổi thuốc để không ảnh hưởng đến thai nhi. Bác sĩ sẽ cho uống acid folic trước khi có thai từ 1 đến 3 tháng để giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh thai nhi, xét nghiệm và chủng ngừa rubella trước có thai từ 1 đến 3 tháng nếu chưa có miễn dịch… Như vậy công việc chăm sóc trước khi mang thai rất quan trọng để đảm bảo một thai kỳ khỏe mạnh cho cả thai phụ và thai nhi.
Các bác sĩ sản khoa đánh giá các yếu tố nguy cơ của thai kỳ bao gồm: Tuổi: Tuổi sản phụ càng cao thì nguy cơ về dị tật thai nhi, sẩy thai, đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật, sanh non đều tăng. Tiền căn y khoa: Một số bệnh mãn tính, PARA, tiền căn gia đình, sử dụng thuốc, hút thuốc lá, rượu, bia, các loại vắc xin đã chích, cân nặng, độc chất. Tiền căn sinh con dị tật bẩm sinh hay tiền căn gia đình có sinh con dị tật bẩm sinh. Tiền căn sẩy thai, thai lưu. Môi trường phơi nhiễm: Hỏi về nơi làm việc, thói quen, thú cưng, môi trường trong nhà để xác định phơi nhiễm một số độc chất như thủy ngân, chì…
Người phụ nữ cần được khám toàn thân, khám phụ khoa và làm một số xét nghiệm. Khám tim, phổi, tuyến giáp, tiêu hóa, đường huyết, xét nghiệm pap hay huyết trắng, đo huyết áp cũng như chỉ số khối cơ thể. Một số xét nghiệm cần được thực hiện trước khi mang thai như huyết đồ, nhóm máu, HIV (tư vấn và có sự đồng ý), viêm gan, Chlamydia, lậu, giang mai, rubella, lao, toxoplasma, CMV… Sàng lọc một số bệnh di truyền dựa vào chủng tộc ví dụ β, α Thalassemia, một số xét nghiệm di truyền tùy vào tiền căn gia đình.
BS. Phạm Huy Khôi lưu ý, một số bệnh cần chú ý trong thai kỳ như Đái tháo đường, kiểm soát đường huyết đối với những người bị tiểu đường. Mục tiêu HbA1c < 7 và mức ceton niệu < 6mg/dL ít nhất ba tháng trước khi mang thai và duy trì từ 2-6mg/dL trong quá trình mang thai. Cao huyết áp, nên được kiểm soát trước khi mang thai, thuốc ức chế men chuyển, ức chế thụ thể không được dùng trong khi mang thai. Hen suyển, nên được kiểm soát tốt khi mang thai. Nếu cần thiết sử dụng steroid (đường hít, hoặc toàn thân) tương đối an toàn trong thai kỳ.
Bệnh lý tuyến giáp, theo dõi sát chức năng tuyến giáp cả nhược giáp hay cường giáp vì có ảnh hưởng rất lớn với kết cuộc thai kỳ. Động kinh, thai phụ động kinh hay dùng thuốc động kinh có nguy cơ về dị tật bẩm sinh thai. Nên dùng thêm một số thuốc (nếu cần thiết) và acid folic để giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh. Đặc biệt valproate không nên được tiếp tục sử dụng trong thai kỳ nếu có thể kiểm soát tốt bằng thuốc khác vì khả năng gây quái thai cao. Carbamazepine gây dị dạng mặt, thiếu ngón.
Bệnh tim mạch, nên được tư vấn kỹ trước khi mang thai. Warfarin, một loại thuốc kháng đông, đối kháng vitamin K, có liên quan đến bệnh lý phôi. Tất cả các thuốc nhóm heparins đều không qua nhau nên các phụ nữ đang sử dụng kháng đông nên chuyển sang heparins liệu pháp trước khi mang thai. Lupus, tiên lượng tốt nhất khi bệnh được kiểm soát tốt ít nhất trong vòng 6 tháng trước mang thai, chức năng thận ổn định gần hoàn toàn hay hoàn toàn. Thuốc dùng trong thai kỳ có thể thay đổi do nguy cơ dị tật cho thai.
Bệnh rối loạn tâm thần, các thuốc thần kinh có liên quan đến dị tật bẩm sinh thai, tuy nhiên nếu không điều trị thì kết cục thai kỳ xấu như nhẹ cân, non tháng, chậm tăng trưởng trong tử cung. Điều trị rối loạn lưỡng cực với Lithium gây dị tật tim. SSRIs được sử dụng tương đối an toàn, tuy nhiên paroxetine sử dụng trong giai đoạn sớm có thể gây dị tật tim. FDA xác định có mối liên quan giữa SSRI và tăng áp phổi ở trẻ em mới sinh.
Bệnh nha chu, bệnh xảy ra trên 10% phụ nữ mang thai. Sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai gây nên tình trạng bệnh nha chu với các triệu chứng thường gặp; chảy máu nướu khi chải răng, nướu sung đỏ, dễ chảy máu, vôi răng đóng ở cổ răng, hơi thở hôi, răng lung lay, ấn vào nướu thấy mủ chảy ra. Theo nhiều nghiên cứu viêm nha chu là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra sinh non, sinh nhẹ cân. Theo nghiên cứu bệnh chứng tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 9/2013 đến tháng 01/2014 của Trần Thị Lợi và cộng sự, sản phụ bị viêm nha chu có nguy cơ sinh non sinh nhẹ cân tăng gấp 2,2 lần so với sản phụ không bị viêm nha chu OR=2,2 (95% KTC: 1,2-4,3) p=0,009. Do đó nên khuyến cáo thai phụ giữ vệ sinh răng miệng tốt trong khi có thai, tuyên truyền về bệnh nha chu cho sản phụ và cần đi khám bác sĩ răng miệng trước khi mang thai để có kết cục thai kỳ tốt, tránh được sinh non – sinh nhẹ cân.
Huy Hoàng
Chi tiết
Các tin khác
13/11/2016:
Phân loại bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue
09/11/2016:
Tình hình phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Vạn Ninh
07/11/2016:
Tình hình phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Cam Lâm
06/11/2016:
Bệnh nhân sốt xuất huyết đang gia tăng
04/11/2016:
Tình hình phòng chống sốt xuất huyết của huyện Khánh Vĩnh
03/11/2016:
Tình hình phòng chống sốt xuất huyết của huyện Diên Khánh
01/11/2016:
Chi phí người dân khám tầm soát bệnh không lây nhiễm
27/10/2016:
Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng lên số ca mắc cúm
26/10/2016:
Đặc điểm của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue
25/10/2016:
Điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
159
Số lượt truy cập:
9297596
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa