{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Giáo dục sức khỏe
Nghiên cứu đột biến gen ở bệnh Hemophilia A
[Đăng ngày: 12/08/2016]
Bệnh Hemophilia (còn gọi là bệnh ưa chảy máu) là một bệnh di truyền do thiếu hụt hay bất thường chức năng của các yếu tố đông máu VIII, IX hay XI; trong đó, sự thiếu hụt yếu tố VIII gây bệnh Hemophilia A là thường gặp nhất (85%).
Đây là bệnh di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể giới tính X nên bệnh gặp chủ yếu ở nam giới và nữ giới là người lành mang gen bệnh. Biểu hiện bệnh trên lâm sàng chủ yếu là chảy máu; mức độ chảy máu có thể là nhẹ, trung bình hoặc nặng tùy thuộc vào nồng độ của yếu tố VIII trong huyết tương.
Mức độ nhẹ chảy máu xảy ra sau chấn thương hoặc sau phẫu thuật. Với mức độ nặng, chảy máu thường xảy ra tự phát hoặc sau những sang chấn nhẹ, nhất là ở khớp và cơ. Chẩn đoán chính xác và điều trị sớm căn bệnh này có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế tối đa tình trạng chảy máu cũng như giảm thiểu khả năng bệnh nhân trở thành tàn tật.
Tiến bộ của kỹ thuật sinh học phân tử ngày nay cho phép phân tích DNA để phát hiện những tổn thương gen gây ra bệnh hemophilia A, phát hiện người lành mang gen F8 dị hợp tử và ứng dụng trong chẩn đoán trước sinh, cũng như tư vấn di truyền. Việc phát hiện đột biến gen F8 rất tốn kém và mất thời gian do gen có cấu trúc dài và các đột biến thường gặp là đột biến đảo đoạn intron 22 và đột biến điểm nằm rải rác khắp chiều dài gen.
Nhóm tác giả nghiên cứu Trần Huy Thịnh, Trần Vân Khánh cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Tim TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa tiến hành đề tài nghiên cứu “Phát hiện người lành mang đột biến gen F8 dị hợp tử bệnh Hemophilia A”.
Phương pháp nghiên cứu gồm tách chiết DNA từ máu ngoại vi:
DNA được tách chiết theo phương pháp phenol/chloroform từ bạch cầu máu ngoại vi của bệnh nhân, mẹ bệnh nhân.
Kiểm tra độ tinh sạch của DNA được tách chiết: bằng phương pháp đo quang, dựa vào tỷ lệ A260nm/A280nm = 1,8 +2,0.
Xác định đột biến gen F8
Kỹ thuật I-PCR (Inversion-PCR) xác định đột biến đảo đoạn: của Rosetti và cộng sự năm 2005. Quy trình gồm 3 bước: (i) Cắt bằng enzym BclI; (ii) Nối bằng T4 ligate; (iii) khuếch đại bằng phản ứng multiplex-PCR.
Chu kỳ nhiệt phản ứng multiplex-PCR: 940 C/2 phút; [940 C/12 giây, 620 C/30 giây, 680 C/7 phút] x 35 chu kỳ; 720 C/5 phút. Sản phẩm khuếch đại PCR được điện di trên gel agarose 1,5%.
Kỹ thuật giải trình tự gen xác định đột biến điểm:
Sử dụng 35 cặp mồi được thiết kế bao phủ toàn bộ chiều dài gen F8, 26 exon của gen F8 được khuếch đại bằng kỹ thuật PCR và tiến hành giải trình tự theo 2 chiều. Do có kích thước lớn nhất, exon 14 được thiết kế 9 cặp mồi để khuếch đại toàn bộ chiều dài exon.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu Trần Vân Khánh, hemophilia A là bệnh di truyền lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X và không có alen tương ứng trên nhiễm sắc thể Y. Kết quả đột biến gen F8 của bệnh nhân là cơ sở khoa học cho những phân tích phát hiện đột biến gen đối với các thành viên trong gia đình bệnh nhân và phát hiện người lành mang gen bệnh. Chẩn đoán trước sinh để đưa ra những tư vấn di truyền là giải pháp hiệu quả nhất giúp ngăn ngừa và làm giảm tỷ lệ mắc bệnh.
Chẩn đoán trước sinh thường chỉ thực hiện ở những người mang gen bệnh chiếm tỷ lệ 2/3, còn lại 1/3 các trường hợp người mẹ không mang gen bệnh, đột biến xuất hiện ở người con trai bị bệnh là đột biến mới phát sinh trong quá trình tạo giao tử từ người bố hoặc từ người mẹ (denovo mutation), người mẹ không mang gen bệnh khi mang thai không cần làm chẩn đoán trước sinh. Chẩn đoán trước sinh bằng phương pháp chọc ối được thực hiện ở tuần mang thai thứ 16 đối với người mẹ mang gen ở trạng thái dị hợp tử, với trường hợp thai nữ hoặc thai nam bình thường thì được tư vấn giữ thai, trong trường hợp là thai nam bị bệnh thì được khuyến cáo nên đình chỉ thai nghén để tránh sinh con có thể bị bệnh hemophilia A.
Kỹ thuật chẩn đoán tiền làm tổ (Preimplantation Genetic Diagnosis – PGD) được tiến hành trong 1-2 năm trở lại đây, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho phép xác định các đột biến về gen hay bất thường nhiễm sắc thể của phôi từ giai đoạn sớm để có thể lựa chọn các phôi khỏe mạnh cấy vào tử cung người mẹ, từ đó góp phần gia tăng tỷ lệ thụ thai và hạn chế tình trạng bỏ thai khi phát hiện bệnh lý ở thai, ưu điểm của kỹ thuật này là cho phép lựa chọn những phôi bình thường trước khi cấy vào buồng tử cung người mẹ, hạn chế tình trạng người mẹ phải phá hủy thai ở những tuần thai lớn tuổi trong trường hợp là thai bệnh lý so với kỹ thuật chẩn đoán trước sinh.
Ngày nay, những tiến bộ về sinh học phân tử đã cho phép phát hiện chính xác những người lành mang gen ở trạng thái dị hợp tử để thực hiện tư vấn hôn nhân và di truyền khi gia đình có nguyện vọng. Các thai phụ có nguy cơ cao sinh con bị bệnh hemophilia A (người lành mang gen bệnh) được khuyến khích thực hiện chẩn đoán trước sinh hoặc chẩn đoán tiền làm tổ để có cơ hội sinh con trai khỏe mạnh. Một gia đình có con trai bị bệnh hemophilia A khi có kế hoạch sinh con tiếp theo cần phải thực hiện theo các bước sau: 1) Xác định đột biến gen trên bệnh nhân; 2) Phát hiện người lành mang gen bệnh cho người mẹ và các thành viên gia đình bệnh nhân dựa vào vị trí đột biến của bệnh nhân; 3) Chẩn đoán trước sinh hoặc chẩn đoán tiền làm tổ cho người mẹ mang gen dựa vào vị trí đột biến chỉ điểm trên DNA của bệnh nhân và thai phụ cũng như xác định được alen đột biến trên người mẹ.
Trong nghiên cứu này 14/22 (63,6%) người mẹ bệnh nhân là người lành mang gen bệnh hemophilia A. Theo nghiên cứu trước đây của Bùi Thị Thu Hương và cộng sự với cỡ mẫu 50 thì tỷ lệ bà mẹ là người lành mang gen bệnh hemophilia A chiếm 68%.
Tư vấn di truyền là một phần rất quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân hemophilia A nhằm giúp bệnh nhân và gia đình các thông tin về nguy cơ sinh con có khả năng bị bệnh hemophilia A. Công việc này bao gồm xét nghiệm chẩn đoán và xác định người mang gen bệnh cũng như tư vấn cho các thành viên trong gia đình bệnh nhân.
Khi bị hemophilia A, bệnh nhân sẽ phải bổ sung các yếu tố đông máu suốt đời. Điều này không chỉ tạo gánh nặng rất lớn về tài chính cho gia đình, xã hội và còn khiến những trẻ bị bệnh mang tâm lý tự ti, mặc cảm, nhiều khi khó hòa nhập cộng đồng. Bởi vậy, việc áp dụng các phương pháp sàng lọc, chẩn đoán trước sinh là điều vô cùng cần thiết, nhất là đối với người bố bị bệnh hoặc người mẹ có khả năng là người lành mang gen bệnh.
Tác giả nghiên cứu kết luận, nghiên cứu đã phát hiện 14/22 bà mẹ của 22 gia đình bệnh nhân bệnh hemophilia A là người lành mang gen bệnh ở trạng thái dị hợp tử./.
Văn Hanh
Chi tiết
Các tin khác
12/08/2016:
Đặc điểm lâm sàng bệnh lý hẹp khúc nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi
09/08/2016:
Huấn luyện an toàn lao động – Vệ sinh lao động
04/08/2016:
Đặc điểm giải phẫu bệnh u sinh dục trẻ em
05/07/2016:
Nhận thức kỹ năng phòng và xử trí bệnh tiêu chảy ở trẻ em
29/06/2016:
Chẩn đoán dị ứng thuốc
28/06/2016:
Những lưu ý khi sử dụng các liệu pháp hỗ trợ cai thuốc lá
23/06/2016:
Các liệu pháp hỗ trợ cai thuốc lá
03/06/2016:
Truyền thông giáo dục chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh cho học sinh – sinh viên Trường Cao đẳng nghề Nha Trang
24/05/2016:
Hưởng ứng Ngày Thế giới Không thuốc lá 31/5/2016
19/05/2016:
Những điều cần biết về bệnh do vi rút Ebola
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
202
Số lượt truy cập:
9299193
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa