[Đăng ngày: 12/08/2016]
Khúc nối bể thận niệu quản là phần tiếp nối giữa bể thận và niệu quản. Tắc nghẽn hoàn toàn hay một phần khúc nối bể thận niệu quản gây nên tình trạng ứ nước thận.
Mức độ ứ nước thận tùy thuộc vào mức độ tắc nghẽn. Đây là bệnh lý thường gặp nhất trong các dị tật bẩm sinh gây ứ nước thận ở trẻ em. Bệnh thường ít biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở trẻ nhỏ. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các thăm dò hình ảnh. Chức năng thận có thể hồi phục hoàn toàn nếu nguyên nhân gây tắc nghẽn được giải quyết sớm. Việc chẩn đoán và điều trị sớm là mấu chốt để bảo toàn chức năng thận.
Từ tháng 1/2011 đến tháng 3/2013 nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Mai Thủy, Nguyễn Thanh Liêm, Bệnh viện Nhi Trung ương tiến hành nghiên cứu 70 bệnh nhân từ 1 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán ứ nước thận do hẹp khúc nối bể thận niệu quản bẩm sinh và được phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Theo phân tích của BS Nguyễn Thị Mai Thủy, hẹp khúc nối bể thận niệu quản ở trẻ em thường có diễn biến lâm sàng kín đáo. 70% bệnh nhi trong nghiên cứu không có biểu hiện lâm sàng. Bệnh thường được phát hiện tình cờ vì một nguyên nhân khác như ỉa chảy, quấy khóc, ăn kém. Triệu chứng nhiễm khuẩn tiết niệu chỉ gặp ở 3/70 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 4,29%.
50% bệnh nhi được bố mẹ đưa đi khám do có chẩn đoán trước sinh là ứ nước thận. Tỷ lệ có chẩn đoán trước sinh trong nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi được phẫu thuật là 23/28 (82,14%) bệnh nhân. Các nghiên cứu trên thế giới đều nhận thấy rằng do sự tiến triển âm thầm, không có triệu chứng nên bệnh thường bị bỏ qua. Nhiều trường hợp bệnh được phát hiện ở giai đoạn chức năng thận bị tổn thương. Flasner báo cáo 7 bệnh nhi có chẩn đoán trước sinh nhưng không có biểu hiện triệu chứng và sau 33 tháng có tình trạng ứ nước thận nặng với chức năng thận giảm. Tác giả Ransley báo cáo 142 trường hợp thận ứ nước có chẩn đoán trước sinh, kiểm tra lại sau đẻ 1 tháng đã có 9 bệnh nhân chức năng thận giảm mặc dù hoàn toàn không có biểu hiện lâm sàng.
Theo báo cáo của BS Mai Thủy, thăm khám lâm sàng thấy dấu hiệu thận to gặp trong 50% các trường hợp trẻ được phẫu thuật. Khám lâm sàng sờ thấy thận to hay gặp khi kích thước bể thận trên 35mm. Có 23/27 (85,19%) bệnh nhân có kích thước bể thận trên siêu âm trên 35mm có dấu hiệu thận to trên lâm sàng. Chỉ có 12/43 (27,91%) bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 35mm có triệu chứng này.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kích thước của bể thận giữa nhóm bệnh nhân có chẩn đoán trước sinh và nhóm không có chẩn đoán trước sinh với p>0,05. Mặc dù có tới 38,57% bệnh nhân có kích thước bể thận trên 35mm nhưng đa phần đều không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng về tiết niệu mà phát hiện bệnh là vì có chẩn đoán trước sinh nên sau sinh đi kiểm tra hoặc do tình cờ vì bệnh lý khác. Điều này cho thấy chẩn đoán trước sinh đóng vai trò quan trọng trong định hướng chẩn đoán sớm sau sinh trong bệnh lý hẹp khúc nối bể thận niệu quản.
Xét các biểu hiện lâm sàng, khi so sánh kích thước của bể thận trên siêu âm với các triệu chứng lâm sàng tác giả nghiên cứu nhận thấy có sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng giữa nhóm bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 35mm và nhóm bệnh nhân có kích thước bể thận trên 35mm, p<0,05. Trẻ thường có biểu hiện lâm sàng khi kích thước bể thận trên 35mm.
Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kích thước của bể thận với nhóm chức năng thận. Khả năng gặp chức năng thận dưới 40% ở nhóm kích thước bể thận trên 35mm cao hơn so với nhóm bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 35mm, p<0,05. Có 6/10 bệnh nhân có chức năng thận dưới 40% có kích thước bể thận trên 35mm. Trong 29 bệnh nhân có chức năng thận trên 50%, chỉ có 7/29 bệnh nhân có kích thước bể thận trên 35mm, còn lại 22/29 bệnh nhân có kích thước bể thận dưới 35mm. Theo tác giả nghiên cứu điều này cũng hết sức phù hợp, khi thận giãn ở một mức nào đó thì sẽ có hiện tượng tăng tưới máu tới thận, tăng lọc cầu thận. Tuy nhiên, khi thận giãn quá mức, gây chèn ép vào nhu mô thận, gây tổn thương đến các tiểu cầu thận, lúc này cho dù lượng máu tới thận có tăng thì mức lọc cầu thận cũng không tăng. Đó là lý do vì sao can thiệp phẫu thuật sớm có thể bảo tồn tối đa chức năng thận trong bệnh lý hẹp khúc nối niệu quản bẩm sinh là vô cùng quan trọng.
Hình ảnh đường cong bài xuất là hình ảnh rất cần thiết để phân tích mức độ bài tiết nước tiểu từ bể thận xuống niệu quản. 64,29% bệnh nhân có đồ thị dạng tích lũy, có nghĩa là sự bài tiết thuốc ra bể thận không đạt được khả năng xuất hiện thuốc tối đa tại bể thận, thời gian Tmax tương ứng sẽ kéo dài. Điều này cho thấy nhu mô thận đã bắt đầu bị ảnh hưởng do tình trạng giãn của bể thận. Hình ảnh đồ thị dạng tích lũy chứng tỏ có tình trạng tắc nghẽn rõ ràng. 35,71% bệnh nhân có đường cong đồ thị đi ngang. Điều này cho thấy vỏ thận vẫn bắt thuốc phóng xạ và bài tiết thuốc ra bể thận vẫn đạt được đỉnh nhưng thời gian bài tiết thuốc từ bể thận xuống niệu quản kéo dài do có tắc nghẽn tại khúc nối bể thận niệu quản. Chỉ có 8/23 bệnh nhân (chiếm 34,78%) có kích thước bể thận trên 35mm có đồ thị bài tiết nước tiểu đi ngang. Trái lại có 15/23 bệnh nhân (chiếm 65,22%) có đường kính trước sau bể thận trên 35mm có đồ thị dạng tích lũy. Điều này cũng phù hợp với tổn thương giải phẫu bệnh của bệnh lý hẹp khúc nối bể thận niệu quản, khi bể thận càng giãn, áp lực tác động lên nhu mô thận càng cao thì sự bắt thuốc và đào thải thuốc của nhu mô thận càng bị ảnh hưởng.
Xạ hình thận là một thăm dò hình ảnh rất có ý nghĩa trong chẩn đoán và xác định mức độ ứ nước thận. Ngoài việc đánh giá chức năng thận, xạ hình thận còn cho phép đánh giá lưu thông nước tiểu qua khúc nối, gián tiếp biết được mức độ tắc nghẽn của khúc nối.
BS Nguyễn Thị Mai Thủy có kết luận bệnh ứ nước thận do hẹp khúc nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi thường có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn. Chẩn đoán trước sinh là chìa khóa cho việc chẩn đoán và điều trị sớm bệnh lý này. Siêu âm đánh giá đường kính trước sau của bể thận và xạ hình thận để đánh giá chức năng thận và đồ thị bài tiết nước tiểu qua khúc nối là 2 thăm dò quan trọng để chẩn đoán và đánh giá mức độ tắc nghẽn tại khúc nối bể thận niệu quản./.
Tường Huân

        
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 290

Số lượt truy cập: 9298608

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang