
Đột quỵ não cho đến nay vẫn là vấn đề thời sự cấp thiết của y học đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng, tăng theo tuổi, chủ yếu từ 50 tuổi trở lên, nam thường chiếm ưu thế hơn nữ. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể về các phương tiện chẩn đoán, điều trị và dự phòng, nhưng tỷ lệ tử vong do đột quỵ não vẫn còn khá cao. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ở các nước Âu, Mỹ và các nước phát triển, tỷ lệ tử vong do đột quỵ não đứng hàng đầu trong các bệnh thần kinh, đứng hàng thứ ba sau bệnh ung thư và bệnh tim mạch, còn ở Việt Nam lại đứng hàng đầu. Bệnh cũng để lại nhiều di chứng nặng nề về tâm thần và thần kinh, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới những người bệnh sau đột quỵ não thuộc loại đa tàn tật, ngoài giảm khả năng vận động họ còn giảm khả năng nhận thức, giao tiếp và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày.
Gánh nặng chăm sóc là một “phản ứng sinh lý đa chiều”, phát sinh từ sự mất cân bằng giữa các yêu cầu chăm sóc ở các lĩnh vực như thời gian chăm sóc, vai trò xã hội, tình trạng thể chất, tinh thần, nguồn tài chính và các nguồn lực chăm sóc. Gánh nặng chăm sóc do đột quỵ não tăng cao, là một vấn đề sức khỏe rất được quan tâm. Mức độ gánh nặng cho người chăm sóc dao động từ khoảng 25-54%. Người chăm sóc phải thực hiện chăm sóc cả về thể chất và tinh thần cho người bệnh trong thời gian dài cả ở bệnh viện cũng như tại gia đình, vì thế họ dễ đối mặt với áp lực và căng thẳng, từ đó có thể dẫn tới gánh nặng chăm sóc.
Từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thành Trung cùng cộng sự trường Đại học Y Hà Nội, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu “Gánh nặng chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não tại gia đình ở tỉnh Nam Định”. Đây là nghiên cứu cắt ngang, có 96 người chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não tham gia.
Tác giả phân tích báo cáo, phần lớn người chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não trong độ tuổi lao động, thuộc nhóm người dưới 60 tuổi và 73% là nữ giới. Phần lớn người bệnh đột quỵ não phải điều trị khá dài trong bệnh viện cũng như sau khi ra viện. Để hỗ trợ chăm sóc cho người bệnh được tốt nhất, người chăm sóc phải dành nhiều thời gian hoặc cân đối thời gian chăm sóc và các công việc riêng khác. Điều đó dễ dẫn tới hậu quả áp lực về thời gian chăm sóc cho người chăm sóc. Số giờ chăm sóc hằng ngày cho người bệnh càng nhiều thì gánh nặng ở người chăm sóc cho người bệnh được xác định cao.
Kinh tế gia đình: Rất nhiều nghiên cứu và các báo cáo đã cho thấy, chi phí điều trị cho người bệnh đột quỵ não khá tốn kém. Ngoài việc phải trả chi phí điều trị tại bệnh viện còn cần có cho phí để tiếp tục điều trị và chăm sóc tại gia đình lâu dài sau khi ra viện. Chất lượng người bệnh được chăm sóc, phục hồi bệnh có tốt hay không một phần cũng do chi phí chữa trị có được đảm bảo hay không. Việc chăm sóc và điều trị cho người bệnh đòi hỏi chi phí điều trị cao có thể dẫn tới tăng áp lực cho người chăm sóc cũng như gia đình.

Hoạt động cá nhân hàng ngày của người bệnh (ADLs): Là sự phụ thuộc của người bệnh vào người chăm sóc trong các hoạt động cá nhân. Hầu hết những người bệnh sau đột quỵ não đều có những di chứng nhất định và tùy theo mức độ di chứng, người bệnh bị phụ thuộc vào hoạt động trong hàng ngày. Tỷ lệ người bệnh sau đột quỵ não phụ thuộc trong các hoạt động cá nhân nhiều nhất nằm ở mức vừa phải và mức nặng. Người bệnh càng phụ thuộc nhiều vào người chăm sóc thì gánh nặng chăm sóc sẽ tăng lên.
Sự hỗ trợ trong chăm sóc bao gồm sự trợ giúp từ gia đình, bạn bè và cộng đồng. Có thể khẳng định là người chăm sóc nhận được sự hỗ trợ càng thấp sẽ có gánh nặng chăm sóc càng cao và ngược lại khi mức độ hỗ trợ càng cao thì gánh nặng chăm sóc càng giảm đi. Nghiên cứu ở đây cho thấy có liên quan giữa sự hỗ trợ chăm sóc và gánh nặng chăm sóc. Nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc của Jaracs cho thấy sự khác biệt với nghiên cứu của BS Thành Trung là, sự hỗ trợ trong chăm sóc không phải là yếu tố gây ảnh hưởng tới gánh nặng chăm sóc (với P>0,05).
Kiến thức chăm sóc: để việc chăm sóc được thực hiện tốt hay không thì người chăm sóc phải có kiến thức về bệnh đột quỵ não cũng như cách chăm sóc. Trong nghiên cứu này BS Trung đã tìm hiểu các khía cạnh kiến thức của người chăm sóc liên quan đến bệnh đột quỵ não, bao gồm cả kiến thức chung và về cách chăm sóc. Tìm hiểu sự liên quan tới gánh nặng chăm sóc về kiến thức của người chăm sóc tương đối thấp, chưa thấy có sự ảnh hưởng. Có lẻ đây là điểm yếu của nghiên cứu vì cỡ mẫu chưa đủ lớn.
Kết luận cho nghiên cứu, tác giả nghiên cứu cho rằng gánh nặng ở người chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não ở tỉnh Nam Định ở mức trung bình. Có sự liên quan giữa thời gian chăm sóc, kinh tế gia đình, hoạt động cá nhân hàng ngày của người bệnh, sự hỗ trợ trong chăm sóc với gánh nặng của người chăm sóc. Không có sự ảnh hưởng của kiến thức tới gánh nặng chăm sóc. Kiến thức của người chăm sóc được nhận thấy tương đối thấp. Kết quả này đề xuất cho ngành y tế cần sự quan tâm nhiều hơn tới người chăm sóc chính của người bệnh sau đột quỵ não từ gia đình, bệnh viện và cộng đồng. Đồng thời cần giáo dục kiến thức cho người chăm sóc từ trước khi bệnh nhân bắt đầu vào viện và giáo dục sức khỏe trong cộng đồng về đột quỵ não.
Nghi Anh