[Đăng ngày: 03/08/2016]
Phòng ngừa nguy cơ tài chính chi tiêu y tế thảm họa và nghèo hóa, phòng chống bệnh tật và các chương trình sức khỏe là vấn đề thường được tranh luận trong một hệ thống y tế công tư kết hợp. Vấn đề được đặt ra là Việt Nam khi chuyển đổi từ hệ thống y tế Semasko sang hệ thống y tế công tư kết hợp và định hướng phát triển chăm sóc sức khỏe toàn dân dựa trên bảo hiểm y tế đã quan tâm đến phòng chống nguy cơ tài chính và nguy cơ sức khỏe như thế nào?
Từ năm 1989, Việt Nam đã chuyển từ một hệ thống y tế kiểu Liên bang Xô viết (Semako) sang hệ thống y tế công tư kết hợp với quyết định cho hành nghề y dược tư nhân và quyết định thu một phần viện phí tại các bệnh viện công. Sau đó, Việt Nam đã định hướng phát triển hệ thống y tế công tư thành hệ thống y tế phúc lợi dựa trên bảo hiểm y tế. Hệ thống y tế truyền thống của Việt Nam (1959-1989) là một hệ thống y tế do Nhà nước cấp tài chính, cung ứng và coi phòng bệnh nâng cao sức khỏe là trọng tâm dựa trên mạng lưới các trạm y tế xã phường được cộng đồng các hợp tác xã và chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm hoạt động. Như vậy, vấn đề đặt ra là khi chuyển đổi từ hệ thống y tế Semasko truyền thống sang hệ thống y tế công tư kết hợp rồi định hướng phát triển hệ thống y tế phúc lợi xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã tiếp tục truyền thống bảo vệ sức khỏe nhân dân phòng chống nguy cơ thảm họa tài chính và nguy cơ bệnh tật như thế nào.
Tác giả Phạm Hồng Hải – Đại học Thái Nguyên đã có nghiên cứu “phân tích phân bổ chi tiêu y tế tại Việt Nam giai đoạn 2005-2015” nghiên cứu phân tích chỉ số (1) Tỷ lệ % ngân sách y tế nhà nước phân bổ mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách nói lên quan tâm phòng chống nguy cơ tài chính thảm họa và nghèo hóa; chỉ số (2) Tỷ lệ ngân sách y tế nhà nước phân bổ cho chương trình Y tế nói lên quan tâm tập trung hiệu quả phòng bệnh vào một số vấn đề y tế; và chỉ số (3) Tỷ lệ ngân sách y tế nhà nước phân bổ cho phòng bệnh nói lên quan tâm đến phòng bệnh thường xuyên. Mẫu số chung của các tỷ lệ này là “Ngân sách nhà nước phân bổ cho y tế”; tử số cho từng chỉ số là “ngân sách y tế nhà nước phân bổ mua bảo hiểm y tế cho đối tượng chính sách”, “ngân sách y tế nhà nước phân bổ cho chương trình y tế” và “ngân sách y tế nhà nước phân bổ cho phòng bệnh”.
Phân tích chuyên gia dựa trên sự so sánh các chỉ số này diễn biến trong 10 năm từ 2005 đến 2013 nói lên sự tương quan giữa phòng chống nguy cơ tài chính và phòng chống nguy cơ bệnh tật.
Theo tác giả nghiên cứu phân tích này là phân tích đầu ra, sử dụng ngân sách nhà nước chi tiêu cho các khoản của y tế. Phân tích này có thể kết hợp với phân tích đầu vào tài chính cho y tế để nêu lên chính sách tài chính ưu tiên cho y tế có kết hợp hay không kết hợp với sử dụng tài chính công bằng hay không công bằng. Tài chính đầu vào chỉ nói lên phần đóng góp của nhà nước cho y tế, sự quan tâm của nhà nước đối với y tế. Tài chính đầu ra mới nói lên đối tượng hưởng lợi là ai, có công bằng hay không.
Theo phân tích của tác giả Phạm Hồng Hải, sự tham gia đóng góp của ngân sách nhà nước cho quỹ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo là hết sức quan trọng để mở rộng bảo hiểm y tế cho các đối tượng nghèo, không có khả năng mua bảo hiểm y tế. Chỉ có 2 cách giải quyết mở rộng bảo hiểm y tế cho đối tượng nghèo là xóa đói giảm nghèo bằng các giải pháp xã hội khác làm cho họ có đủ tiền mua bảo hiểm y tế. Và cách thứ hai là nhà nước phải mở rộng chi phí để mua bảo hiểm y tế cho người nghèo và người cận nghèo. Cách thứ nhất có nghĩa là làm cho xã hội giàu lên. Nhưng ngay cả giầu như nước Mỹ cũng vẫn còn có nhiều người cần trợ giúp trong chương trình Medicaid; và chương trình này cũng cần phải mở rộng trong quyết định chính sách Obama care. Việc mở rộng ngân sách nhà nước phải tùy thuộc vào khả năng và các ưu tiên quốc gia. Tuy nhiên, trợ giúp của nhà nước đối với các đối tượng chính sách hiện nay mua bảo hiểm y tế cho người nghèo tương đối đủ vì hàng năm vẫn còn kết dư nhiều.
Đối với tỷ lệ ngân sách nhà nước phân bổ dành cho các chương trình y tế luôn được đảm bảo khoảng 10%. Ngân sách này được sử dụng để thực hiện những chương trình y tế sau đây: (1) Chương trình phòng chống sốt rét; (2) Chương trình phòng chống các rối loạn do Iod; (3) Chương trình tiêm chủng mở rộng; (4) Chương trình phòng chống bệnh phong; (5) Chương trình phòng chống bệnh lao; (6) Chương trình bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng; (7) Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; (8) Chương trình bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; (9) Chương trình phòng chống HIV/AIDS; (10) Chương trình phòng chống sốt xuất huyết.
Mười chương trình nói trên là những chương trình mục tiêu, có một số mục tiêu phải hoàn thành trong một thời gian nhất định với một ngân sách nhất định, một nguồn lực nhất định. Những chương trình này là những chương trình phòng chống bệnh (sốt rét, lao, sốt xuất huyết, bệnh phong, HIV/AIDS, 6 bệnh tiêm chủng (ho gà, bạch hầu, uốn ván, sởi, bại liệt và lao), phòng chống thiếu vi chất, nâng cao sức khỏe tâm thần và bảo đảm an toàn thực phẩm).
Nếu cộng toàn bộ ngân sách nhà nước cấp cho y tế được sử dụng để phòng nguy cơ tài chính (BHYT) và nguy cơ bệnh tật (phòng bệnh và các chương trình y tế cũng là phòng bệnh), tỷ lệ lên tới 70%-80%. Phân tích chuyên gia cho rằng sự đóng góp của nhà nước phòng chống nguy cơ tài chính và nguy cơ bệnh tật là rất cần thiết và tỷ lệ 70%-80% đã có sự đóng góp của nhà nước. Nhiều ý kiến cho rằng nên cơ cấu lại quản lý phòng bệnh và các chương trình y tế. Vấn đề đặt ra là có nên quản lý tập trung như cách làm như CDC hay không vì như vậy vừa quản lý được dịch bệnh, vừa quản lý được các mục tiêu phòng chống bệnh được đặt ra, vừa tập trung được nguồn lực và có những hoạt động chung, vừa tránh được những quỹ nhỏ phải có kế toán riêng cho từng chương trình.
Như vậy, khoản chi phí nhà nước sẽ gồm phần được sử dụng để phòng chống nguy cơ tài chính và phần được sử dụng để phòng chống dịch bệnh. Một phần cho bảo hiểm y tế và một phần cho bộ phận phòng chống dịch bệnh.
Tác giả kết luận, ngân sách nhà nước đã chi một khoản góp lên tới 30% quỹ bảo hiểm y tế và một khoản đóng góp khác lên tới 10% cho các chương trình y tế và 30% cho hoạt động phòng bệnh nói chung.
Tổng các khoản chi để phòng chống nguy cơ tài chính và nguy cơ bệnh tật lên tới 70%-80%. Kết luận chuyên gia cho rằng khoản đóng góp này của nhà nước là không nhỏ cho một hệ thống y tế công tư kết hợp trên đường phát triển mô hình phúc lợi dựa trên bảo hiểm y tế toàn dân.
Tác giả nghiên cứu kiến nghị cần xem xét thay đổi mô hình quản lý như sử dụng mô hình CDC thay cho mô hình các chương trình y tế mục tiêu hiện nay để quản lý tốt hơn.
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 186

Số lượt truy cập: 9283626

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang