[Đăng ngày: 06/02/2015]
Theo GS.TS Huỳnh Văn Minh – Trường Đại học Y Dược Huế, thực hiện siêu âm tim và doppler mạch được khuyến khích sử dụng đặc biệt trên những bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp mà tổn thương cơ quan đích không được phát hiện bằng xét nghiệm thường quy bao gồm điện tim.
Tổn thương cơ quan đích đóng vai trò quan trọng trong dự báo nguy cơ tim mạch toàn thể của bệnh nhân tăng huyết áp, vì vậy người bác sĩ khi thăm khám phải rất cẩn thận. Sử dụng siêu âm tim mạch dùng để đánh giá phì đại thất trái và dày thành động mạch cảnh hoặc mảng xơ vữa, nếu không sẽ phân loại nhóm nguy cơ của bệnh nhân có thể nhầm lẫn đến 50%. Một xét nghiệm cũng được khuyến khích sử dụng là tìm albumine niệu vi thể, đây là dấu chứng nhạy cảm cho tổn thương cơ quan đích không chỉ ở bệnh nhân đái tháo đường mà cả trên bệnh nhân tăng huyết áp (THA).
Cũng theo GS.TS Huỳnh Văn Minh, một số khuyến cáo hiện nay không còn dùng bảng phân tầng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA mà thay vào đó tính thang điểm nguy cơ tim mạch chung để dự phòng nhưng đối với THA quyết định điều trị ở bệnh nhân THA không chỉ đơn thuần dựa vào mức huyết áp qua đo huyết áp, mà còn xem có sự hiện diện những yếu tố nguy cơ tim mạch khác đi kèm, thương tổn cơ quan đích và các tình trạng lâm sàng liên quan.
Các yếu tố nguy cơ về bệnh tim mạch ở bệnh nhân THA gồm giới nam; tuổi (≥ 55 tuổi ở nam, ≥ 65 tuổi ở nữ; hút thuốc; rối loạn lipid máu: CT > 4.9 mmol/l (190 mg/dl), và/hoặc LDL-C > 3.0 mmol/l (115 mg/dl), và/hoặc HDL-C < 1.0 mmol/l (40 md/dl) ở nam, < 1.2 mmol/l (46 mg/dl) ở nữ, và/hoặc TG > 1.7 mmol/l (150 mg/dl); đường máu khi đói bất thường; béo phì; béo phì bụng; tiền sử gia đình có người bị bệnh tim mạch sớm (< 55 tuổi với nam và < 65 với nữ).
Thương tổn cơ quan đích không có triệu chứng bao gồm hiệu áp ≥ 60 mmHg (ở người già); điện tim dày thất trái (SL > 3.5 Mv; RaVL > 1.1 Mv; chỉ số Cornel > 244 mm*ms) hoặc dày thành động mạch cảnh (IMT > 0.9 mm) hoặc có mãng vữa; vận tốc sóng mạch đùi - động mạch cảnh > 10 m/s; chỉ số cổ chân - cẳng tay < 0.9; bệnh thận giai đoạn mạn giai đoạn 3 (Egfr: 30-60 ml/phút/1.73 m2); albumine niệu vi thể (30-300 mg /24 giờ) hoặc tỉ alb/creatinine (30-300 mg/g hoặc 3.4-34 mg/ mmol).
Bệnh lý kết hợp của đái tháo đường ở bệnh nhân THA: đường máu khi đói ≥ 7.0 mmol/l (126 mg/dl) trong hai lần đo liên tiếp và/hoặc HbA1c > 7% (53 mmol/mol) và/hoặc đường máu sau ăn > 11.0 mmol/l (200 mg/dl).
Bệnh tim thực thể hoặc bệnh thận bao gồm bệnh mạch não: nhồi máu não, xuất huyết não, tai biến máu não thoáng qua; bệnh mạch vành: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tái tưới máu bằng nong vành hoặc cầu nối; suy tim, bao gồm suy tim chức năng bảo tồn; bệnh động mạch chi dưới có triệu chứng; bệnh thận mạn giai đoạn 4 (eGFR < 30 ml/ph/1.73 m2); protein niệu > 300 mg/24 giờ; bệnh võng mạc tiến triển: xuất huyết hoặc tiết, phù gai thị.
Cùng với sử dụng bảng phân tầng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA (nguy cơ tim mạch thấp, trung bình, cao và nguy cơ rất cao), bác sĩ chuyên khoa tim mạch có thể tính các thang điểm nguy cơ tim mạch như SCORE, Framingham hay của WHO để có tiên lượng và hướng dẫn điều trị thay đổi lối sống và can thiệp thuốc hợp lý trên người bệnh THA./.
BS Tôn Thất Toàn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 33

Số lượt truy cập: 9378228

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang