
Hiện nay cuộc cách mạng công nghệ trong y học nói chung, xạ trị ung thư nói riêng đang ngày càng đem lại những lợi ích tốt nhất cho người bệnh ung thư. Từ sự phát triển và đạt được nhiều thành tựu, y học có thêm chuyên ngành mới đó là xạ trị ung thư. Theo nhận định của bác sĩ Nguyễn Xuân Kử - Bệnh viện K Trung ương xạ trị ung thư đang đi vào một kỷ nguyên vàng.
Đối với kỹ thuật xạ trị hình cung, điều biến liều theo thể tích (viết tắt tiếng Anh là VMAT) sử dụng phương pháp phát chùm tia liên tục khi quay thân máy qua một hay nhiều cung, trong khi quay như vậy nhiều thông số kỹ thuật được điều chỉnh và thay đổi như hình dạng chùm tia, suất liều (dose rate); tốc độ quay của thân máy,…VMAT đã tạo ra sự phân bổ liều theo hình dạng khối u với độ chính xác cao. VMAT có thời gian điều trị ngắn hơn so kỹ thuật truyền thống, người bệnh sẽ cảm thấy thoải mái hơn, giảm nguy cơ bị ung thư thứ cấp…Hiện nay kỹ thuật VMAT vẫn đang được tiếp tục cải tiến và hoàn thiện.
Kỹ thuật xạ trị đáp ứng sinh học (viết tắt tiếng Anh là BioART)
Thông thường, mục đích của xạ trị là đưa một liều lượng đồng đều trong toàn bộ thể tích khối với BioART, phương pháp này áp dụng kỹ thuật điều chỉnh sự phân bố liều bức xạ tại từng vùng thể tích nhỏ thuộc khối u tùy theo sự khác nhau về mức độ nhạy cảm với tia xạ, sự thiếu oxy của tế bào.
Việc sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại ngày nay như cộng hưởng từ (MRI), cộng hưởng từ phổ ký (MRSi) hay chụp cắt lớp bằng đồng vị phát positron (PET) đang rất hiệu quả giúp cung cấp thông tin đúng để điều chỉnh, tăng giảm cường độ nhằm tối ưu hóa sự phân bố liều bức xạ phù hợp với hình thái khối u. Hiện nay có nhiều nghiên cứu tìm hiểu sự thay đổi thuộc tính sinh học xảy ra trong quá trình chiếu xạ của tế bào lành và tế bào u, qua đó tiên đoán kết quả điều trị. Những thông tin này có thể giúp điều chỉnh cho từng bệnh nhân trong phần còn lại của thời gian chiếu xạ
Từ năm 1990, xạ trị cắt lớp – TOMOTHERAPY đã được nghiên cứu, đây là thiết bị đặc biệt để phân bố tối ưu liều xạ trị tại thể tích khối u. Phương pháp này dựa trên những hình ảnh hàng ngày của CT để lấy thông tin giải phẫu của bệnh nhân, phân bố liều bức xạ quanh thể tích khối u với độ chính xác cao từ mọi góc độ và khác nhau cho mỗi bệnh nhân giảm thiểu được liều có hại cho các mô lành bao quanh; có thể chỉnh, sửa kế hoạch xạ trị tại bất kỳ vị trí nào khi cần thiết. Tomotherapy cho phép quan sát các khối u theo không gian 3-D. Phương pháp này không cần phải can thiệp phẫu thuật trên bệnh nhân để cài cắm những vật bằng kim loại đánh dấu xác định vị trí, tọa độ khối u như các phương pháp khác. Thời gian xạ trị với Tomotherapy chỉ mất dưới 10 phút. Ung thư nhiều ổ có thể xạ trị một lần đồng thời với Tomotherapy kể cả những khối u có kích thước lớn. Ưu điểm có Tomotherapy là có thể điều trị những khối u các kích thước khác nhau trong khi những thiết bị khác chỉ có thể điều trị với những khối u có kích thước nhất định.
Xạ trị là phương pháp sử dụng các tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao (tia X, tia gamma) hoặc các hạt nguyên tử (electron, proton) chiếu vào khối u ung thư nhằm hủy diệt nó.
Cũng như các phương pháp điều trị khác, bên cạnh hiệu quả điều trị, xạ trị cũng có những tác dụng phụ nhất định trên các mô lành của cơ thể. Mục đích của điều trị cần đạt được là giảm các tác dụng phụ này xuống mức thấp nhất.
Tác dụng phụ của tia xạ có 2 loại là cấp tính và mãn tính. Tác dụng phụ sớm hay cấp tính: thường thấy trên các tế bào cơ thể có tốc độ tăng trưởng nhanh như tế bào niêm mạc, da, tủy xương. Xuất hiện trong hay ngay sau xạ trị và tăng dần nếu vẫn tiếp tục xạ, mức độ cao nhất ở tuần thứ 5 đến tuần thứ 7. Thông thường sẽ hồi phục khi kết thúc xạ trị và không để lại di chứng. Tác dụng phụ này có thể kéo dài và/hoặc nặng hơn nếu có hóa trị kèm theo. Tác dụng phụ hay mãn tính: Tế bào chết đi với biểu hiện là teo mô hoặc tạng hay xơ hóa. Thông thường diễn tiến chậm, nhiều tháng, nhiều năm nhưng không hồi phục, có ảnh hưởng hoặc làm mất chức năng của tạng./.
Phương Thảo