[Đăng ngày: 25/01/2016]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính mỗi năm toàn cầu có hơn 14 triệu người mới mắc và 8,2 triệu người chết do ung thư, trong đó 70% là ở các nước đang phát triển.
Theo PGS TS Bùi Diệu – Phó Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện K Hà Nội, Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng bệnh các bệnh không lây nhiễm đang ngày càng gia tăng. Ước tính năm 2012 cả nước có 520.000 ca tử vong các loại trong đó 73% là do các bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là bệnh ung thư, tim mạch, bệnh phổi mạn tính và đái tháo đường.
Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới ở các nước; còn ở nữ giới ung thư vú là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Theo ước tính đến năm 2020 Việt Nam có tối thiểu 189.300 ca ung thư mới mắc; trong đó ung thư vú hơn 22.000 ca; ung thư dạ dày hơn 5.500 ca; ung thư phổi hơn 11.600 ca; ung thư đại trực tràng hơn 11.000 ca; ung thư cổ tử cung hơn 6.600 ca; ung thư gan hơn 3.000 ca; ung thư hạch hơn 1.700 ca; ung thư máu hơn 1.500 ca; ung thư vòm họng hơn 1.400 ca; ung thư phần mềm hơn 700 ca; ung thư khoang miệng gần 800 ca.
PGS TS Bùi Diệu và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu gần 51.700 bệnh nhân ung thư đến khám và điều trị tại 5 Bệnh viện: Bệnh viện K; Bệnh viện ung bướu Hà Hội; Bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng; Bệnh viện Trung ương Huế vào năm 2009, kết quả cho thấy có 37,3% trường hợp có phân loại giai đoạn bệnh; có hơn 13.700 trường hợp đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn (≥ giai đoạn 3) chiếm 71,4%. Ung thư vú giai đoạn 1 và 2 chiếm 50,5%; giai đoạn muộn chiếm 49,5%. Ung thư đại trực tràng giai đoạn 1 và 2 chiếm 46%; giai đoạn muộn chiếm 54%. Kết quả điều tra tại 12 tỉnh, thành phố với 12.050 người tham gia nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng một số bệnh ung thư phổ biến cho thấy tỷ lệ người dân có hiểu biết cơ bản đúng về bệnh ung thư chỉ đạt 35%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng ung thư là bệnh nan y, việc phát hiện sớm hay muộn cũng vậy thôi chiếm hơn 67%; 35,8% đối tượng cho rằng bị ung thư mà đụng dao kéo vào di căn sớm và chóng chết.
Theo PGS TS Bùi Diệu, nội dung của chiến lược phòng chống ung thư gồm phòng bệnh, chẩn đoán sớm, sàng lọc, điều trị và chăm sóc giảm nhẹ. Bốn bước xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống ung thư là: Đánh giá gánh nặng ung thư; Đặt ra các mục tiêu phòng chống ung thư; Đánh giá các chiến lược khả thi phòng chống ung thư và Chọn lựa các ưu tiên cho các hành động phòng chống ung thư.
Về đề xuất nội dung chiến lược phòng chống ung thư tại Việt Nam đến năm 2020, mục tiêu cụ thể là (1) Phấn đấu đến năm 2020 có 70% người trưởng thành hiểu biết đúng về bệnh ung thư; (2) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực làm công tác phòng, phát hiện sớm bệnh ung thư; 100% cán bộ y tế hoạt động trong phạm vi dự án được đào tạo về biện pháp phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, (3) Tổ chức sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú, cổ tử cung, khoang miệng, đại trực tràng góp phần giảm 10-15% bệnh nhân ung thư được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn muộn, tăng cường hoạt động chăm sóc giảm nhẹ, (4) Tăng cường hệ thống giám sát, quản lý bệnh ung thư.
Nội dung giải pháp thực hiện là nâng cao nhận thức cộng đồng phòng chống ung thư; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp để tổ chức triển khai hoạt động phòng ung thư tại địa bàn; triển khai mạnh mẽ chương trình tuyên truyền giáo dục phòng chống ung thư; truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, tăng thời lượng phát sóng, đăng tải các chuyên mục phòng chống ung thư trên báo chí, truyền thanh, truyền hình; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông phòng chống ung thư; xây dựng các tài liệu huấn luyện công tác truyền thông; đa dạng các loại hình truyền thông, lồng ghép các chương trình cộng đồng, các buổi tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ, cuộc thi; từng bước cung cấp tài liệu truyền thông đến từng hộ gia đình, tổ chức chiến dịch truyền thông ngày phòng chống ung thư thế giới; duy trì các phòng tư vấn phòng chống ung thư.
Đối với giải pháp tổ chức sàng lọc phát hiện sớm một số bệnh ung thư như vú, cổ tử cung, khoang miệng, đại trực tràng, tuyến tiền liệt, tuyến giáp: Tăng cường hỗ trợ các hoạt động chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh ung thư. Tại các Bệnh viện thiết lập và đưa vào hoạt động các đơn vị điều trị đau và chăm sóc giảm nhẹ. Do có 70% bệnh nhân đến khám điều trị ở giai đoạn muộn; các triệu chứng đau xuất hiện ở phần lớn bệnh nhân, các triệu chứng khác như khó thở, loét, táo bón làm cho người bệnh phải chịu đựng đau đớn, khó chịu, vật vã những ngày cuối cùng của cuộc đời, gây tâm lý xót xa, căng thẳng cho gia đình và người thân.
Hoạt động chăm sóc giảm nhẹ cần thực hiện: thiết lập tại cơ sở phòng chống ung thư đơn vị điều trị đau và chăm sóc triệu chứng, đào tạo về chuyên môn chống đau, cung cấp đủ các thuốc giảm đau theo bậc thang thuốc chống đau của Tổ chức Y tế thế giới, nghiên cứu áp dụng các phương pháp điều trị đau và chăm sóc triệu chứng cho bệnh nhân ung thư; nghiên cứu các thuốc hỗ trợ trong quá trình xạ trị, điều trị hóa chất bao gồm thuốc Đông, Tây y để nâng cao sức đề kháng cho người bệnh. Nội dung mô hình chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại cơ sở, chăm sóc tại cộng đồng có sự hỗ trợ của cán bộ y tế có vai trò hết sức quan trọng.
Việc cần làm là tiến hành công tác điều tra, giám sát, đánh giá chương trình, điều tra kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh ung thư của cộng đồng; đánh giá thông tin về tình hình dịch tễ ung thư tại “làng, vùng” ung thư theo thực tế và tiến hành sơ tổng kết công tác phòng chống ung thư sau 5-10 năm thực hiện chương trình phòng chống ung thư./.
Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 168

Số lượt truy cập: 9350069

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang