
Tại Hội nghị khoa học Y dược miền Trung – Tây Nguyên lần thứ X, tổ chức vào tháng 10/2015 tại thành phố Buôn Mê Thuột, tác giả Nguyễn Thị Thủy – khoa Phòng chống HIV/AIDS – Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên đã có báo cáo đề tài “Nhu cầu và thực trạng tiếp cận chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV của phụ nữ mại dâm ở thành phố Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3-5/2014, thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Có 132 phụ nữ mại dâm từ 18 tuổi trở lên đang sống và hoạt động tại thành phố Buôn Mê Thuột. Tác giả nghiên cứu theo phương pháp hòn tuyết lăn (snowball sampling).
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi đối tượng nghiên cứu trên 25 chiếm gần gấp đôi so với nhóm tuổi dưới 25. Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 67,4%, dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 32,6%. Chưa lập gia đình có tỷ lệ 37%; đã ly dị chiếm 34,8%; đang có chồng (9,1%); góa chồng (8,3%). Về trình độ học vấn, tỷ lệ cao nhất là THPT 37,1%, THCS 36,4%; Tiểu học 21,2%; Trung cấp, Cao đẳng, Đại học có 3 người. Đối với đặc điểm sử dụng ma túy, có 13,6% đối tượng nghiên cứu có sử dụng ma túy, hình thức tiêm chích chiếm gần 40%; có dùng chung bơm kim tiêm là 11,1%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết khách hàng của mình có sử dụng ma túy là 31,1%.
Theo tác giả nghiên cứu, hầu hết phụ nữ mại dâm trong nghiên cứu có nhu cầu được nghe thông tin về HIV/AIDS (98,5%); nhận tài liệu truyền thông về HIV/AIDS (97%); các kênh truyền thông phòng chống HIV/AIDS từ y tế có tỷ lệ gần 77%; nhân viên tiếp cận cộng đồng 66%; qua ti vi, đài phát thanh 67%. Chương trình bao cao su được xem là xương sống trong gói can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV cho các đối tượng nguy cơ cao, trong nghiên cứu này có 99,2% đối tượng nghiên cứu muốn được nhận bao cao su miễn phí từ chương trình. Kênh phân phát bao cao su mong muốn là tại các nhà nghỉ/khách sạn nơi phụ nữ mại dâm thường xuyên quan hệ tình dục với khách (85,5%); tại các hiệu thuốc tây (71,8%); qua nhân viên tiếp cận cộng đồng (70%); tại các cơ sở y tế (65%).
Đối với tỷ lệ mong muốn nhận được các dịch vụ hỗ trợ khác của chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV cho phụ nữ mại dâm chiếm tỷ lệ cao 97,7% trong đó nhu cầu về dịch vụ tư vấn, khám điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) là lớn nhất (96,1%). Có 98,3% đối tượng nghiên cứu mong muốn biết được các địa điểm khám điều trị STI và họ cũng mong muốn được khám điều trị STI miễn phí. Đối tượng nghiên cứu cũng mong muốn biết địa chỉ để xét nghiệm HIV chiếm đến 95,5%; đồng thời mong muốn được xét nghiệm HIV để biết tình trạng nhiễm HIV có hay không của bản thân là 83,3%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu từng nhận được truyền thông về HIV/AIDS là gần 80%, từng nhận được tài liệu truyền thông về HIV là 34% và chủ yếu là tờ rơi (31,8%). Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng nhận bao cao su miễn phí trong 6 tháng qua là 53,8% (tương đương với kết quả điều tra 10 tỉnh, thành phố Việt Nam). Khoảng ½ đối tượng nghiên cứu cho biết họ đã từng có các triệu chứng liên quan đến bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 6 tháng qua, nhưng chỉ có 39,7% đối tượng nghiên cứu đã từng đi khám và điều trị; 100% số này đều khám điều trị tại các phòng khám tư nhân với lý do sợ mặc cảm và kỳ thị tại các dịch vụ y tế nhà nước.
Đối với tỷ lệ biết nơi xét nghiệm HIV chỉ đạt gần 63%; tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng xét nghiệm HIV chỉ chiếm 41%.
Tác giả nghiên cứu có khuyến nghị cần tăng cường độ bao phủ của chương trình can thiệp phòng chống HIV/AIDS qua dịch vụ truyền thông – tư vấn, chính sự cung cấp đầy đủ thông tin về các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS, khám điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục, đồng thời tăng sự tiếp cận của mạng lưới giáo dục viên đồng đẳng sẽ giúp tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ mại dâm tiếp cận tốt các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS.
Được biết chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV thành phố Buôn Mê Thuột đã triển khai từ năm 2005; theo báo cáo của Sở Y tế, năm 2013 tỷ lệ phụ nữ mại dâm nhiễm HIV là 0,67%; có 60% phụ nữ mại dâm được hướng dẫn sử dụng bao cao su đúng cách, 70% đã sử dụng bao cao su đúng cách trong lần quan hệ tình dục gần nhất; chỉ có 23% xét nghiệm HIV và biết kết quả xét nghiệm; 10% phụ nữ mại dâm được giới thiệu đến dịch vụ khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục./.
Trần Hưng