Theo báo cáo điều tra quốc gia các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam năm 2021 cho thấy, tỉ lệ cao các yếu tố nguy cơ sinh học và hành vi của người dân.
Cụ thể, một phần năm (20,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên hiện hút thuốc, bao gồm 41,1% nam giới và 0,6% nữ giới. Cứ 1 trong 3 người (37,3%) đã từng tiếp xúc với khói thuốc thụ động tại nhà trong 30 ngày trước điều tra.
Đối với uống rượu, bia, gần 2/3 nam giới (64,2%), 1/10 nữ giới (9,8%) và 36,9% chung cả hai giới hiện có uống rượu, bia trong 30 ngày trước điều tra. Có khoảng 14,7% số người uống rượu, bia ở mức nguy hại (trong 30 ngày qua có ít nhất 1 lần uống từ 6 đơn vị cồn trở lên), tỉ lệ này nam giới là 28,5% cao hơn nhiều so với nữ giới (1%). Trong số những người uống rượu, bia, hơn 27,3% đã điều khiển phương tiện giao thông cơ giới trong vòng 2 giờ sau khi uống (nam 28,1%, nữ 22,7%).
Đối với ăn rau, trái cây, mức kiến nghị là ăn ít nhất 5 suất (tương đương 400g) rau và/hoặc trái cây mỗi ngày, điều tra cho thấy 60% dân số trưởng thành ăn thiếu rau và trái cây mỗi ngày.
Nếu như so với kết quả điều tra năm 2015, tỉ lệ hút thuốc lá năm 2021 giảm (20,8% so với 22,5%), đối với nam giới giảm (45,3% năm 2015 so với 41,1% năm 2021).
Đối với uống rượu, bia, năm 2015 là 43,8%, năm 2021 giảm 36,9%. Đối với tỉ lệ dân số thiếu họat động thể lực đã giảm 28,1% năm 2021 và 22,2% năm 2015. Tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng từ 15,6% năm 2015 lên 19,5% năm 2021. Tỉ lệ tăng huyết áp, tăng từ 18,9% năm 2015 lên 26,2% năm 2021 ở cả giới nam và nữ.
Tỉ lệ người có cholesterol toàn phần máu ≥ 5mmol/L hoặc đang dùng thuốc điều trị tăng cholesterol đã tăng từ 30,2% lên 44,1% giữa 2 cuộc điều tra.
Phân tích về độ tuổi uống rượu, bia của nam giới, cao nhất là nhóm từ 30-49 tuổi với 70,8%, nhóm từ 50-69 tuổi 64,3%, nhóm từ 18-29 tuổi có tỉ lệ 53,4%. Đối với nữ giới, nhóm từ 18-29 tuổi cao nhất với 18,9%, nhóm từ 30-49 tuổi có tỉ lệ uống rượu, bia là 13,3%, nhóm từ 50-69 tuổi có tỉ lệ 7,2%.
Ở nam giới, tỉ lệ luôn luôn hoặc thường xuyên cho thêm muối hoặc mắm hoặc gia vị mặn vào thức ăn trước hoặc trong khi ăn, độ tuổi từ 30-49 tuổi là 81,4%, độ tuổi từ 18-29 tuổi là 79,3%, độ tuổi từ 50-69 tuổi là 78,2%, chung là 80%. Đối với nữ giới, tỉ lệ chung này là 76,5%, nam giới ăn mặn hơn nữ giới.
Báo cáo cho thấy, có đến 49% nam giới và 57,4% nữ giới có được đo huyết áp nhưng không được chẩn đoán. Có 38,9% nam giới và 30,9% nữ giới chưa bao giờ được đo huyết áp. Tỉ lệ người được chẩn đoán tăng huyết áp nhưng không phải trong 12 tháng qua, ở nam giới là 4,7%, nữ giới là 4,6%. Tỉ lệ cao ở độ tuổi từ 50-69 tuổi với 11,8%, nữ giới từ 50-69 tuổi là 11,6%.
Đối với tỉ lệ được chẩn đoán tăng huyết áp trong 12 tháng qua, độ tuổi từ 50-69 tuổi ở nam giới là 17,5%, nữ giới là 18%, tỉ lệ chung cho nam giới là 7,4%, nữ giới là 7,1%.
Đối với tỉ lệ từng được đo đường huyết, đối với nam giới nhóm từ 18-39 tuổi là 26,8%, nhóm từ 40-69 tuổi có tỉ lệ 35,9%; đối với nữ, nhóm từ 18-39 tuổi là 38,4%, nhóm từ 40-69 tuổi là 37,7%; chung cho hai nhóm nữ và nam là 34,8% đã từng đo đường huyết trong 12 tháng qua.
Báo cáo ghi nhận tỉ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng bị đau tim hoặc đau ngực do bệnh tim hoặc đột quỵ là 9,1% (10,4% ở nữ và 7,7% ở nam), trong đó độ tuổi từ 50-69 tuổi là 15% cho biết có tiền sử này.
Tỉ lệ người dân được nhân viên y tế tư vấn bỏ thuốc lá, giảm lượng muối ăn vào, ăn đủ rau, trái cây, giảm lượng chất béo, giảm cân nặng cơ thể, tăng cường họat động thể lực, đối với nam giới là 46,2% được khuyên bỏ thuốc lá, đối với khuyên giảm muối nam giới là 54,6%, nữ giới là 49,9%, tư vấn ăn đủ rau, trái cây mỗi ngày cho nam giới là 57%, nữ giới là 57,8%, nhân viên y tế tư vấn ăn giảm mỡ trong chế độ ăn chung là 53,2%, tư vấn tăng cường họat động thể lực chung 2 giới là 60,2%.
Đối với điều trị tăng huyết áp, có 6/10 người bị tăng huyết áp chưa được chẩn đoán trước đó, trong số những người đang điều trị tăng huyết áp (30,7% tổng số người bị tăng huyết áp), có khoảng 1/3 (11,2%) đã kiểm sóat được huyết áp theo mục tiêu, có 19,3% chưa kiểm sóat được huyết áp mục tiêu (dưới 140mmHg/90 mmHg)./.
Hoa Đăng