Trên toàn cầu, mỗi năm có gần một triệu trường hợp ung thư dạ dày mới mắc; ung thư dạ dày chiếm tỉ lệ 6,8%; đứng thứ 5 trong các loại ung thư thường gặp; số trường hợp tử vong khoảng 800.000 trường hợp.

Theo các chuyên gia ung thư, phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu của ung thư dạ dày, vì vậy các bác sĩ luôn tìm tòi, cải tiến phương pháp phẫu thuật. Phẫu thuật mổ mở, phẫu thuật nội soi, phẫu thuật nội soi robot Da vinci là những phương pháp đang được áp dụng. Nhược điểm của phương pháp này đôi khi là ưu điểm của phương pháp kia.
Nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Văn Bình cùng cộng sự Bệnh viện K tiến hành báo cáo đề tài “phẫu thuật ung thư dạ dày quá khứ, hiện tại, tương lai”.
Lịch sử phẫu thuật dạ dày được bắt đầu bởi Jules Emile Pean, người Pháp, nổi tiếng với ca cắt dạ dày đầu tiên vào ngày 7/4/1879; tuy nhiên bệnh nhân chết sau đó 5 ngày. Sau nhiều nổ lực; ca phẫu thuật cắt dạ dày điều trị ung thư dạ dày đầu tiên thành công vào ngày 22/1/1881 bởi Theodor Billroth ở Viên. Bệnh nhân là nữ 43 tuổi, hẹp môn vị. Vết mổ bụng dài 11cm, khối u môn vị được cắt bỏ, tá tràng được cắt 2cm dưới môn vị và dạ dày được cắt ở 3cm ở phía trên rìa khối u. Miệng nối thực hiện bằng cách đóng một phần bờ cong lớn của dạ dày nối với tá tràng bằng đường khâu với tất cả 54 mũi khâu chỉ lin. Tổn thương ung thư được mô tả là tổn thương dạng nhày, xơ cứng, cùng với nhiều hạch bạch huyết xung quanh cứng chắc. Sau mổ ngày thứ hai bệnh nhân có thể ăn một muỗng cafe bơ sữa mỗi giờ. Bệnh nhân ra viện vào ngày thứ 26 sau mổ và mất sau đó 4 tháng vì tái phát. Tuy nhiên lúc đó là một thành công vĩ đại. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu, Theodor đã phẫu thuật 257 trường hợp cắt dạ dày.
Đến năm 1897, Karl Schlatter, một bác sĩ trẻ 32 tuổi đã thực hiện ca phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày lần đầu tiên tại Zurich dưới hướng dẫn của giáo sư Kronlein. Bệnh nhân là bệnh nhân nữ, 56 tuổi, sau khi cắt dạ dày toàn bộ, nối thực quản với hỗng tràng; ca mổ thành công nhưng bệnh nhân qua đời vì khối u tái phát sau đó 14 tháng.
Sau đó nhiều nơi trên thế giới phẫu thuật được cắt toàn bộ dạ dày; tác giả Charles B. Brigham ở San Francisco và tác giả Richardson ở Boston. Tính đến nay, đã có hàng triệu bệnh nhân ung thư dạ dày đã được chẩn đoán và phẫu thuật thành công.
Tác giả nghiên cứu cho biết, giáo hoàng Pope John XXIII, năm 1962, sau 4 năm nhận chức, ông xuất hiện các triệu chứng buồn nôn, các đợt nôn xuất hiện liên tục và thường xuyên hơn. Đến tháng 10/1962, 4 bác sĩ nổi tiếng của Italia được mời khẩn cấp đến tòa thánh Vatican để khám bệnh cho giáo hoàng. Trên phim chụp X-quang dạ dày, các bác sĩ phát hiện thấy tổn thương ung thư vùng hang môn vị dạ dày, gây chít hẹp gần như hoàn toàn môn vị. Do khối u quá lớn, các bác sĩ không mổ, vì tuổi của giáo hoàng đã 81 tuổi; nguy cơ ca mổ thất bại lớn.
Trãi qua hơn một thế kỷ phẫu thuật mổ mở, kỹ thuật cắt dạ dày gần toàn bộ và cắt toàn bộ nạo vét hạch D2 đã trở thành kỹ thuật chuẩn hóa trên toàn thế giới. Các tác giả Nhật Bản là những người tiên phong nghiên cứu ung thư dạ dày với kết quả sống thêm 5 năm sau mổ đạt 70% - 80%. Một nghiên cứu lớn của Châu Âu cho thấy tỉ lệ sống thêm 5 năm tăng từ 25% ở nhóm nạo vét hạch D1 lên 45%; và 50% ở nhóm nạo vét hạch D2.
Hiện nay các bác sĩ nhất trí chỉ định nạo vét hạch D2 với ung thư dạ dày giai đoạn 2 và 3.
Phẫu thuật nội soi cắt gần toàn bộ dạ dày được Kitano thực hiện lần đầu tiên vào năm 1994 tại Nhật Bản. Riêng năm 2009 Nhật Bản thực hiện 7341ca. Theo thống kê phân tích của Meta-Analyse, những năm đầu 1990, phẫu thuật nội soi được áp dụng cho ung thư dạ dày giai đoạn sớm, nạo vét hạch giới hạn ở D1; sau đó kỹ thuật mổ hoàn thiện hơn áp dụng nạo vét hạch D2. Các tác giả Nhật Bản đã cho rằng ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển tại chỗ giai đoạn 3 thực hiện phẫu thuật nội soi an toàn về ung thư học. Một nghiên cứu có đối chứng của Mỹ cho thấy biến chứng mổ mở cao hơn nhóm nội soi, số lượng hạch nạo vét như nhau, tỉ lệ tái phát và sống thêm 5 năm là tương đương.
Tiến bộ của phẫu thuật nội soi lên một bước nữa là phẫu thuật nội soi rôbốt. Chỉ định cho những ung thư dạ dày giai đoạn T1NOMO; T2NOMO; T2N1MO; với giai đoạn T4a hay T4b không nên áp dụng mổ nội soi rôbốt. Ưu điểm mổ nội soi rôbốt là bệnh nhân giảm lượng máu mất trong mổ, hồi phục nhanh hơn, nhu động ruột trở lại sớm hơn, chất lượng sống sau mổ tốt hơn. Đối với phẫu thuật viên quan sát trường mổ 3D chính xác hơn, thao tác mổ linh hoạt hơn, chu trình đào tạo ngắn hơn. Nhược điểm là đắt tiền; thời gian mổ kéo dài hơn. Ca mổ đầu tiên bằng rôbốt là năm 2003 bởi Hashizume.
Phẫu thuật nội soi rôbốt là hướng phẫu thuật trong tương lai, triển vọng tối ưu hóa hơn nữa những ưu điểm về ngoại khoa của phẫu thuật nội soi, đảm bảo về mặt ung thư học so với mổ mở; tuy nhiên cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa.
Hoa Phượng