Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn- Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, mục đích của việc điều trị bệnh nhân tăng huyết áp là giảm tối đa nguy cơ dài hạn các biến chứng tim mạch và tử vong. Người điều trị bệnh tăng huyết áp cần điều trị tất cả các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, rối loạn lipit máu, đái tháo đường.
Khi người bệnh đo huyết áp tại nhà, theo dõi kết quả điều trị cần lưu ý các trị số đo được tại nhà phải thấp hơn ít nhất 5-15mmHg đối với huyết áp tâm thu và 5-10mmHg đối với huyết áp tâm trương so với trị số huyết áp đo được tại phòng khám của cơ sở y tế.
Tăng huyết áp là bệnh phải được điều trị liên tục, kéo dài và thậm chí có thể suốt cuộc đời. Trong quá trình uống thuốc, trị số huyết áp trở về bình thường thì đó mới là chỉ đạt mục tiêu điều trị. Vì vậy, người bệnh không được ngừng điều trị, khi muốn thay đổi thuốc phải hỏi ý kiến bác sĩ.
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn cho rằng việc dùng thuốc hạ huyết áp kéo dài không có gây hại gì, tuy nhiên có một tỷ lệ nhỏ người bệnh bị tác dụng phụ không mong muốn. Cụ thể đối với nhóm thuốc lợi tiểu tác dụng phụ làm hạ kali mái, hạ natri máu, tăng axit uric máu, tăng đường máu, tăng lipit máu. Thuốc nhóm chẹn bêta giao cảm gây co thắt phế quản, giảm khả năng gắng sức, ác mộng, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng tình dục, suy tim nặng, rối loạn dẫn truyền ở tim, tăng nặng triệu chứng của một số bệnh mạch máu ngoại biên. Đối với nhóm thuốc ức chế men chuyển gây tác dụng phụ hạ áp liều đầu, ho khan, tăng kali máu. Thuốc đối kháng angiotensin II gây tác dụng phụ tăng kali máu. Thuốc đối kháng canxin gây bừng mặt, ù tai, nhức đầu, phù cổ chân, đi tiểu đêm, phì đại lợi răng. Thuốc chẹn alpha gây tác dụng phụ hạ huyết áp tư thế đứng, nhức đầu, mệt mỏi.

Điều trị tăng huyết áp cho người cao tuổi cần chú ý vì có nhiều nguy cơ khác, tổn thương các cơ quan đích và bệnh tim mạch đi kèm, vì vậy sự lựa chọn thuốc phải phù hợp với tình trạng đó. Cần đo huyết áp tư thế ngồi, tư thế đứng để phát hiện hạ huyết áp tư thế và tác dụng phụ các thuốc gây hạ huyết áp khi đứng. Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi cũng dùng thuốc như đối với bệnh nhân còn trẻ nhưng bắt đầu điều trị với liều thấp hơn. Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi giúp giảm nguy cơ đối với bệnh mạch vành và đột quỵ. Việc lựa chọn thuốc tăng huyết áp dựa vào tác dụng của thuốc đối với giảm huyết áp kéo dài 24 giờ; tác dụng tích cực trên phì đại thất trái.
PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lưu ý điều trị tăng huyết áp ở người trên 80 tuổi mang lại những lợi ích rất rõ ràng và làm giảm một cách rất tốt về nguy cơ bị đột quỵ và suy tim. Trong trường hợp tăng huyết áp nhẹ và vừa không cần dùng thuốc ngay, cần điều chỉnh lối sống như ăn hạn chế muối, kiểm soát cân nặng và tập thể dục đều. Khi huyết áp tâm thu >160mmHg hay huyết áp tâm trương >90mmHg thì phải dùng thuốc hạ huyết áp. Trong những trường hợp người bệnh đã có các biến chứng tim mạch hoặc có bằng chứng tổn thương cơ quan đích, mắc bệnh đái tháo đường cần điều trị tăng huyết áp, không cần đợi huyết áp ở mức cao.
Có khoảng 1/3 bệnh nhân tăng huyết áp có phì đại thất trái, làm tăng tỷ lệ suy tim, nhồi máu cơ tim và đột quỵ lên đến 6 lần. Chẩn đoán phì đại thất trái dựa vào điện tâm đồ hay siêu âm tim, bình thường chỉ số khối cơ thất trái < 130g/m2 ở nam giới; < 110g/m2 ở nữ giới. Suy tim xảy ra do rối loạn chức năng tâm trương (giảm khả năng giãn ra của thất trái) hoặc rối loạn chức năng tâm thu (giảm khả năng co bóp của thất trái). Điều trị hạ huyết áp và đặc biệt là bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II làm giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, phòng ngừa suy tim ứ huyết và kéo dài tuổi thọ của các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp có suy tim.
Đối với những bệnh nhân có suy thận, việc điều trị bảo vệ thận ở bệnh nhân đái tháo đường bằng cách kiểm soát chặt chẽ huyết áp < 130/80mmHg và thấp hơn nếu xét nghiệm đạm nước tiểm > 1g/ngày; giảm đạm nước tiểu bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II nếu không có chống chỉ định. Ở những bệnh nhân có suy thận để đạt được huyết áp mục tiêu thường phối hợp điều trị thêm thuốc lợi tiểu và thuốc đối kháng kèm canxi.
Đối với tăng huyết áp ở người có thai sẽ tăng nguy cơ tử vong cả mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh. Về mặt sinh lý, huyết áp bình thường sẽ hạ xuống khoảng 15mmHg vào 3 tháng giữa của thai kỳ, vào 3 tháng cuối huyết áp sẽ trở về mức như trước khi có thai thậm chí cao hơn. Người mẹ bị tăng huyết áp thai kỳ khi huyết áp tâm thu > 140mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg. PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn lưu ý việc dùng thuốc trong huyết áp thai kỳ phải hết sức thận trọng, không nên ăn mặn, hạn chế ăn muối, không ăn chế độ giảm cân vì sẽ giảm tăng trưởng của thai nhi. Nuôi con bằng sữa mẹ không làm tăng huyết áp. Cần chú ý hầu hết các thuốc hạ huyết áp, tùy mức độ sẽ được bài tiết qua sữa mẹ. Vì vậy, khi mẹ phải dùng thuốc hạ huyết áp, người mẹ không nên cho con bú để phòng tránh ngộ độc cho trẻ.
Hữu Cao