Theo số liệu điều tra của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn, tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại 12 tỉnh khu vực miền Trung – Tây nguyên năm 2015-2016 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán chung là 15,9%, trong đó nhiễm giun đũa là 2,7%; giun tóc là 1,5% và giun móc là 13,4%.
Đề tài nghiên cứu tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản tại 6 tỉnh miền Trung – Tây nguyên năm 2013-2015 của Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn thực hiện cho thấy tỉ lệ này ở Quảng Nam 20,9%; Quãng Ngãi 33,9%; Khánh Hòa 22%; Phú Yên 30,8%; Đak lắk 19,3% và Đắc Nông 18,6%.
Chúng ta biết rằng, các loài chính gây bệnh nhiễm giun truyền qua đất cho người là giun đũa (Ascaris lumbricoides); giun tóc (Trichuris trichiura), và giun móc (Necator americanus và Ancylostoma duodenale).
Ổ chứa của bệnh là con người, một số loài động vật cũng có thể là ổ chứa giun móc. Giun tóc ở động vật không lây bệnh cho người.

Về lây truyền: các loài giun truyền qua đất lây truyền bệnh qua trứng có trong phân người mắc giun. Giun trưởng thành sống trong ruột và đẻ hàng ngàn trứng mỗi ngày. Trong khu vực thiếu vệ sinh, trứng giun gây ô nhiễm đất. Người bị nhiễm giun đũa và giun tóc do ăn phải trứng ký sinh trùng có khả năng gây bệnh. Trứng gắn trên rau khi rau không được nấu chín kỹ, rửa sạch hoặc bóc tách lá. Trứng giun được tiêu hóa từ nguồn nước bị nhiễm bẩn. Trẻ em nhiễm trứng giun sau khi nghịch đất và bỏ tay vào miệng khi chưa rửa tay. Trứng giun móc có thể nở trong đất, giải phóng ấu trùng; ấu trùng này chuyển hóa thành một dạng có thể chủ động xâm nhập vào da. Người bị nhiễm giun móc chủ yếu bởi đi bộ chân trần trên đất bị nhiễm giun. Không có lây truyền trực tiếp người – người và không có nhiễm qua phân tươi vì trứng giun được thải ra trong phân cần khoảng 3 tuần để trưởng thành trong đất trước khi trở thành tác nhân gây bệnh. Giun không nhân lên trong cơ thể vật chủ nên việc bị tái nhiễm chỉ xảy ra nếu có sự tiếp xúc với các giai đoạn có thể lây nhiễm (của giun) trong môi trường.
Thời gian ủ bệnh: khác nhau từ vài tuần đến vài tháng, tùy thuộc vào mức độ nhiễm trùng.
Biểu hiện lâm sàng: tỷ lệ mắc bệnh có liên quan trực tiếp đến lượng giun: số lượng giun trong người bị nhiễm càng lớn thì mức độ nghiêm trọng của bệnh càng cao. Người nhiễm giun mức độ nhẹ thường không có triệu chứng. Nhiễm trùng nặng có thể gây ra một loạt các triệu chứng bao gồm những biểu hiện tiêu hóa (tiêu chảy, đau bụng), khó chịu nói chung và yếu mệt, chậm phát triển trí tuệ và thể chất. Giun móc gây mất máu đường ruột mãn tính có thể dẫn đến thiếu máu.
Xét nghiệm chuẩn đoán giun: phát hiện trứng hoặc giun trong phân bằng soi kính hiển vi. Đôi khi có tăng bạch cầu ái toan. Huyết thanh chẩn đoán ít có giá trị do phản ứng chéo.
Phòng ngừa: các biện pháp can thiệp của WHO được dựa trên chỉ định uống thuốc giun định kỳ đối với các nhóm có nguy cơ, được hỗ trợ bởi các biện pháp cải thiện vệ sinh môi trường và giáo dục sức khỏe. WHO khuyến cáo việc uống thuốc giun mỗi năm một lần tại các khu vực có tỷ lệ nhiễm bệnh từ 20%-50% và mỗi năm hai lần ở những khu vực có tỷ lệ trên 50%. Các biện pháp vệ sinh môi trường giúp giảm nguy cơ lây truyền.
Về dịch tễ học: nhiễm trùng giun truyền qua đất là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất trên toàn thế giới và ảnh hưởng lớn đến nhóm dân cư nghèo. Hơn 1,5 tỷ người, hay 24% dân số bị nhiễm giun truyền qua đất trên toàn thế giới. Nhiễm giun truyền qua đất phân bố rộng rãi trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, với số lượng lớn nhất tại vùng dưới Sahara Châu Phi, châu Mỹ, Trung Quốc và Đông Á: Trên 270 triệu trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo và hơn 600 triệu trẻ em trong độ tuổi đi học sống trong khu vực có ký sinh trùng được lan truyền mức độ cao, và cần được điều trị và sự phòng ngừa can thiệp.
Tỷ lệ nhiễm giun móc phân bố đồng đều trong cả nước, nhưng tập trung ở các vùng nông nghiệp ven đô thị và nông thôn. Sử dụng phân làm phân bón trong trồng trọt rau là một yếu tố nguy cơ nhiễm giun móc, đặc biệt là phụ nữ trưởng thành. Chương trình kiểm soát giun nên tập trung vào trẻ em độ tuổi đi học. Cần có can thiệp cụ thể trên toàn quốc đối với phụ nữ nông thôn có nguy cơ nhiễm giun móc. Một nghiên cứu thực hiện tại khu vực ven đô Hà Nội cho thấy tiếp xúc với nước thải không gây ra nguy cơ với nhiễm giun. Thay vào đó, thiếu các phương tiện vệ sinh môi trường và thói quen sử dụng phân tươi hoặc các chất thải tiết của người không được xử lý đầy đủ trong nông nghiệp là yếu tố nguy cơ chính.
Hữu Lai