[Đăng ngày: 28/09/2018]
Theo các chuyên gia điều trị bệnh ung thư, điều trị ung thư buồng trứng chủ yếu vẫn dựa trên kết hợp phẫu thuật và hóa trị, tuy nhiên vấn đề các tổ chức ung thư còn sót lại của bệnh sau phẫu thuật vẫn là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thời gian sống sau mổ của bệnh nhân. 

Trong vài thập niên gần đây, việc sử dụng phẫu thuật sau một vài chu kỳ hóa trị tân bổ trợ ở những bệnh nhân giai đoạn muộn (giai đoạn IIIC/IV theo phân loại FIGO) cho thấy kết quả tốt hơn của phẫu thuật giảm khối tối ưu và giảm các biến chứng. Nội soi đã được áp dụng trong phẫu thuật ung thư buồng trứng và cho thấy kết quả tương tự phẫu thuật bụng hở, bệnh nhân được hưởng lợi của một phẫu thuật xâm lấn tối thiếu.

Tại Bệnh viện Trung ương Huế đã áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư buồng trứng kể từ tháng 01/2012 với sự giúp đỡ của đoàn chuyên gia phẫu thuật nội soi Vương Quốc Bỉ, đến nay đã được hơn 5 năm.

Từ tháng 01/2012 đến tháng 01/2017 nhóm tác giả nghiên cứu Châu Khắc Tú cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện nghiên cứu, báo cáo đề tài điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn muộn với mục tiêu (1) khảo sát độ an toàn, khả năng áp dụng và hiệu quả của phẫu thuật nội soi giảm khối trong ung thư buồng trứng giai đoạn IIIC-IV sau điều trị hóa chất tân bổ trợ (2) phân tích các đặc điểm chung, kết cục về thời gian sống sau mổ trên tổng số bệnh nhân nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân ở giai đoạn muộn (FIGO giai đoạn IIIC-IV) có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô buồng trứng từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 1 năm 2017. Bệnh nhân được điều trị 3 đợt hóa trị tân bổ trợ và sau đó được đánh giá lại với CA-125 huyết thanh và CTscan trước và sau khi hóa trị. Tiêu chuẩn điều trị hóa chất tân bổ trợ khi đánh giá khả năng phẫu thuật giảm khối khó khăn, không triệt để. Các tiêu chuẩn chọn bệnh của nhóm nội soi: Số lượng bạch cầu tuyệt đối trên 2.000/ml, số lượng tiểu cầu trên 100.000/ml, và chức năng thận, gan và tim bình thường, các bệnh nhân có đáp ứng lâm sàng tối ưu đối với hóa trị tân bổ trợ. Các tiêu chuẩn loại trừ: bệnh tim phổi nặng như nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực tái diễn, bệnh phổi tắc nghẽn nặng, nhiễm trùng toàn thân.

BS Châu Khắc Tú báo cáo phân tích nghiên cứu, có 30 bệnh nhân được chọn tham gia nghiên cứu. Có 25 bệnh nhân với ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn IIIC hoặc IV đã được phẫu thuật nội soi chẩn đoán ban đầu tại Bệnh viện Trung ương Huế. 5 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 16,6%) trong số 30 bệnh nhân đã được phẫu thuật ban đầu tại các bệnh viện tuyến dưới và sau đó được chuyển đến bệnh viện: 3 trường hợp cắt mổ hở cắt phần phụ hai bên, 1 trường hợp cắt tử cung hoàn toàn và phần phụ hai bên và 1 trường hợp nội soi cắt u nang buồng trứng.

Độ tuổi trung bình là 50 tuổi (dao động từ 26-73 tuổi) và BMI trung bình là 24,5kg/m2 (dao động từ 19-39kg/m2). Mười lăm bệnh nhân (50%) đã trải qua phẫu thuật bụng hở. Tất cả các bệnh nhân được đánh giá độc tính và đáp ứng với hóa trị liệu.
Tác giả nghiên cứu phân tích, nghiên cứu cho thấy tính khả thi của phẫu thuật nội soi giảm khối trong ung thư buồng trứng giai đoạn muộn sau hóa trị tân bổ trợ, giảm lượng máu mất và các biến chứng trong và sau phẫu thuật. Vấn đề cắt bỏ triệt để hay không các tổ chức ung thư trong cuộc phẫu thuật lần đầu tiên hoặc sau khi hóa trị tân bổ trợ vẫn là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất trong điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn muộn.

Sự phát triển rộng rãi của phương pháp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong vài thập niên vừa qua đã có nhiều bước tiến mới trong điều trị ung thư phụ khoa, nhờ vào những ưu điểm nổi trội trong việc giảm các biến chứng và thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Mặc dù nội soi mạc tử cung và ung thư cổ tử cung được chấp nhận rộng rãi, nhưng thành công đó vẫn chưa được ứng dụng nhiều trong điều trị ung thư buồng trứng, đặc biệt là đối với bệnh ở giai đoạn muộn. Việc ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn sớm cho thấy đây là một cách điều trị an toàn, khả thi và toàn diện. Với những tiến bộ gần đây về các phương tiện và kỹ thuật nội soi đã cho phép ứng dụng phẫu thuật nội soi giảm khối ngay cả trong giai đoạn muộn của ung thư buồng trứng.

Trong nghiên cứu phần lớn bệnh nhân đều được nội soi giảm khối tối ưu và khoảng thời gian không tái phát trung bình là 20 tháng, tương tự kết quả được báo cáo trong một số nghiên cứu khác. Điều này có thể được giải thích là có sự kết hợp cuả phẫu thuật tối ưu và đáp ứng với hóa trị tốt ở bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc phẫu thuật giảm khối tốt, không để lại khối u tồn dư sau phẫu thuật sẽ góp phần cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót.

Các yếu tố khác có liên quan để đạt được khả năng giảm khối cao nhất bao gồm thời gian, phẫu thuật thích hợp và hóa trị liệu. Mặc khác, việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi ổ bụng giảm khối có thể cải thiện tình trạng bệnh lý của những bệnh nhân có nguy cơ cao này. Các kết quả trong nghiên cứu bao gồm lượng máu mất trong mổ, thời gian nằm viện và các biến chứng trong và sau phẫu thuật đều khả quan và tương tự như kết quả của một số các nghiên cứu khác trên thế giới.

BS Tú kết luận, phẫu thuật nội soi ổ bụng ở những bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn muộn sau khi hóa trị tân bổ trợ được thực hiện bởi bác sĩ phẫu thuật có tay nghề tốt và trong một nhóm bệnh nhân được lựa chọn, là khả thi và có thể làm giảm bớt một số hạn chế của phẫu thuật bụng hở bệnh nhân sau khi trải qua hóa trị liệu. Với những tiến bộ trong phương pháp và kỹ thuật nội soi cho phép thực hiện phẫu thuật nội soi giảm khối trên một số bệnh nhân ung thư buồng trứng có chọn lọc. Do thời gian phẫu thuật khá lâu nên cần cân nhắc cẩn thận các yếu tố dự báo quan trọng như bệnh tật, tuổi tác, gánh nặng bệnh tật, vị trí di căn, và tình trạng tay nghề của bác sĩ thực hiện phẫu thuật khi quyết định phương pháp nội soi trên một bệnh nhân để có thể đạt được kết quả giảm khối tối ưu trong khoảng thời gian này.

BS Tú lưu ý, mặc dù kết quả sống sót có vẻ khả quan, tuy nhiên số lượng bệnh nhân được nghiên cứu vẫn còn ít nên phương pháp phẫu thuật nội soi giảm khối trong ung thư buồng trứng giai đoạn muộn sau hóa trị tân bổ trợ vẫn còn được tiếp tục đánh giá thêm trong các nghiên cứu khác trong tương lai.
Ngô Thanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 218

Số lượt truy cập: 9360671

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang