Nâng cao chất lượng xét nghiệm là một hoạt động rất quan trọng được Bộ Y tế chỉ đạo bắt buộc đối với các cơ sở y tế. Vừa qua, nhóm nghiên cứu Trần Hữu Tâm cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu và báo cáo đề tài “Khảo sát thông số xét nghiệm hóa sinh lâm sàng thường quy tại các phòng xét nghiệm”.
Theo tác giả Trần Hữu Tâm, nghiên cứu được thực hiện tại 245 phòng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh; khu trú 25 thông số thường gặp và đại diện cho các tình trạng bệnh lý khác nhau trong các xét nghiệm hóa sinh lâm sàng. Số liệu khảo sát được ghi nhận tại 11 tỉnh, thành phố, được phân chia theo tuyến tỉnh, thành phố, quận, huyện thành 3 loại hình hoạt động tương ứng với quy mô khác nhau là các phòng xét nghiệm thuộc bệnh viện nhà nước, bệnh viện hoặc phòng khám đa khoa tư nhân, phòng xét nghiệm tư nhân riêng lẻ; trong đó TP Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ số lượng phòng xét nghiệm đến 81,63%, Vĩnh Long 4%, Cần Thơ 3,27%, Trà Vinh 2,4% còn lại là các tỉnh Hậu Giang, An Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp, Gia Lai, Long An, Đồng Nai và Hà Tĩnh.
Số liệu khảo sát đã đại diện cho các loại hình xét nghiệm, tập trung vào 2 tuyến quan trọng là tỉnh, quận, huyện; đại diện các xét nghiệm hóa sinh thường quy được thực hiện vì ở tuyến trung ương và tuyến xã phường các xét nghiệm hoặc quá chuyên sâu hoặc quá đơn giản.
Tác giả Trần Hữu Tâm cho biết, mức độ thường quy của các thông số hóa sinh đang được các phòng xét nghiệm thực hiện được đánh giá dựa trên 2 dữ liệu: tỷ lệ các phòng xét nghiệm có thực hiện xét nghiệm đối với các thông số so với tổng số đơn vị khảo sát và tần suất thực hiện (số mẫu thực hiện) tại các phòng xét nghiệm trung bình mỗi tháng.
Cụ thể, xét nghiệm ALT có 175 phòng xét nghiệm thực hiện, có tỷ lệ thực hiện trên tổng số khảo sát là 71,43%; tần suất mẫu thực hiện trung bình/tháng là 420. Các thông số xét nghiệm có tỷ lệ cao tương tự ALT và các thông số xét nghiệm AST, Cholesterol, Glucose, Triglyxerit, Urê, GGT. Các thông số khác dao động dưới 20% là Albumin, Amylase toàn phần, Axit uric, Bilirubin, Canxi ion hóa, Canxi toàn phần, Creatimin, HDL, Ion Clo, Kali, Magie, Natri, LDH, ALP, Protein toàn phần, Sắt.
Nhóm nghiên cứu báo cáo, kết quả có 6 thông số thường quy cần nghiên cứu tiếp AST, ALT đại diện cho các xét nghiệm về chức năng gan; Glucose đại diện cho xét nghiệm đái tháo đường; Protein toàn phần (35,92%, tần suất thực hiện trung bình 525 mẫu/tháng) đại diện cho xét nghiệm về chức năng thận, Cholesterol, Triglyxerit đại diện cho các xét nghiệm về rối loạn lipit máu và xơ vữa động mạch.
Đối với xét nghiệm cấy nước tiểu tìm vi khuẩn gây bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu, để đảm bảo độ tin cậy các bệnh viện bên cạnh nội kiểm cũng tham gia chương trình ngoại kiểm chất lượng xét nghiệm theo quy định của Thông tư số 01/2013/TT-BYT, Quyết định số 316/QĐ-TTg về tăng cường năng lực hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm y học giai đoạn 2016-2020.
Nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Quang Huy, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh qua nghiên cứu thử nghiệm sản xuất mẫu nước tiểu giả định đông khô chứa tác nhân gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu là E.Coli và E.faecalis được đánh giá đạt chất lượng theo ISO13528 và ISO35 với tính chất đồng nhất, ổn định trong thời gian 3 tháng ở nhiệt độ 2-8 độ C.
Trong nghiên cứu, dạng mẫu giả định được đông khô với chất phụ gia là sucrose 5%. Chất phụ gia này cung cấp khả năng bảo vệ vi khuẩn trong quá trình đông khô, làm tăng tỷ lệ sống sót của vi khuẩn so với việc không dùng chất phụ gia. Nghiên cứu áp dụng công nghệ đông khô mẫu bệnh phẩm. Quy trình sản xuất thử nghiệm bao gồm 4 giai đoạn theo hướng dẫn của ISO Guide 34:2000 đúng yêu cầu của nhà sản xuất mẫu chuẩn ở mỗi bộ mẫu E.Coli và E.faecalis. Việc triển khai chương trình ngoại kiểm chất lượng xét nghiệm mục đích là cung cấp bằng chứng khách quan về chất lượng xét nghiệm các phòng xét nghiệm tham gia, vì vậy bộ mẫu phải có tính đồng nhất, không có sự biến động tính chất, đặc trưng được cho đại lượng cần đo, ở đây là nồng độ vi khuẩn đích có trong mẫu./.
Thanh Tùng