[Đăng ngày: 26/03/2021]

Sarcôm tử cung là bệnh lý ác tính nguồn gốc từ mô liên kết của tử cung, chiếm tỷ lệ 3-9% các khối u ác tính tử cung.

Theo các chuyên gia sản phụ khoa, sarcôm tử cung tiến triển nhanh và có tỷ lệ tái phát cao 50-70%. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường không đặc hiệu như ra máu âm đạo bất thường, đau bụng vùng hạ vị, vì vậy bệnh nhân thường được chẩn đoán sau khi đã cắt tử cung hoặc bóc u xơ tử cung.

Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy sarcôm cơ trơn và sarcôm mô đệm nội mạc tử cung là hai thể hay gặp nhất; đối với sarcôm tuyến thường ít gặp hơn. Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật đóng vai trò chủ yếu, phương pháp xạ trị sau mổ sarcôm tử cung giúp giảm nguy cơ tái phát tại chỗ nhưng không cải thiện thời gian sống thêm. Hóa chất được chỉ định điều trị trong giai đoạn muộn; đối với điều trị nội tiết có giá trị ở các trường hợp dương tính với thụ thể nội tiết.

Từ tháng 1/2014 đến tháng 7/2020, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Việt Hoàng cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện K thực hiện báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sarcôm tử cung”. Có 34 bệnh nhân sarcôm tử cung được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học tham gia nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu không chọn bệnh nhân được chẩn đoán là sarcôm tử cung tái phát, mắc ung thư khác phối hợp, mắc các bệnh lý cấp hoặc mãn tính khác có nguy cơ tử vong trong vòng 3 tháng.

Bs Trần Việt Hoàng báo cáo, có 34 đối tượng tham gia nghiên cứu; độ tuổi trung bình là 49,1; người trẻ nhất là 17 tuổi; người già nhất là 82 tuổi. Đối với độ tuổi trung bình của sarcôm cơ trơn tử cung là 53,8 tuổi; sarcôm mô đệm nội mạc tử cung là 47 tuổi; sarcôm tuyến là 43,3. Tỷ lệ bệnh nhân mãn kinh là 52,9%, chưa mãn kinh là 47,1%.

Về đặc điểm lâm sàng, một bệnh nhân có thể có một vài triệu chứng cơ năng; hai triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau bụng hạ vị (58,8%) và ra máu âm đạo bất thường (52,9%). Qua thăm khám u đường âm đạo, có 41,2% tử cung hạn chế hoặc không di động; có 82% tử cung tăng kích thước hơn so với kích thước tử cung bình thường là 17,6%.

Về kết quả mô bệnh học, sarcôm mô đệm nội mạc tử cung và sarcôm cơ trơn tử cung là hai thể hay gặp nhất. Hiện nay các trường hợp sarcôm biểu mô đã được xếp vào nhóm ung thư nội mạc tử cung.

Kết quả trong nghiên cứu có 4 bệnh nhân được chẩn đoán là sarcôm tử cung trước điều trị nhờ vào kết quả sinh thiết trước điều trị (chiếm 11,7%) còn lại bệnh nhân được chẩn đoán là các bệnh lý khác; trong đó có 3 bệnh nhân nghi ngờ ung thư nội mạc tử cung, 3 bệnh nhân chẩn đoán polyp tử cung, ngoài ra còn có những chẩn đoán nhầm với bệnh lý u buồng trứng, sa sinh dục, u thân tử cung, u xơ tử cung.

Bs Trần Việt Hoàng chia sẻ, chẩn đoán sarcôm tử cung trước mổ hiện tại là một thách thức lớn đối với các nhà ung thư học, bệnh có triệu chứng lâm sàng thường giống với các bệnh lý khác; đối với phương tiện chẩn đoán hình ảnh thì không đặc hiệu để giúp chẩn đoán phân biệt bệnh lý khác. Các đặc điểm gợi ý đến sarcôm tử cung là ra máu âm đạo ở tuổi mãn kinh, khối u có tiến triển nhanh, xâm lấn các tổ chức lân cận, vị trí khối u dưới thanh mạc.

Kết quả nghiên cứu, có 38,3% bệnh nhân ở giai đoạn I của bệnh, giai đoạn II có 32,3%; 14,7% bệnh nhân ở giai đoạn III và 14,7% ở giai đoạn IV. Về điều trị ung thư cần áp dụng điều trị đa mô thức. Các phương pháp điều trị chính gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Đối với phẫu thuật là phương pháp điều trị chính với những bệnh nhân còn khả năng phẫu thuật. Trong nghiên cứu có 11 bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật đơn thuần; 10 bệnh nhân điều trị phẫu thuật sau đó có xạ trị bổ trợ; 4 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật, xạ trị, hóa chất bổ trợ; 5 bệnh nhân điều trị phẫu thuật hóa trị bổ trợ; có 4 bệnh nhân được điều trị triệu chứng vì bệnh nhân đã ở giai đoạn IV.

Về kết quả điều trị, thời gian sống thêm toàn bộ đạt trung bình là 44,1 tháng. Các nghiên cứu của Nhật Bản thời gian sống là 61,2 tháng; thời gian bệnh nhân sống thêm được 5 năm là 55,2%.

Bs Trần Việt Hoàng phân tích mối liên quan của một số yếu tố tiên lượng ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ gồm tuổi, thể giải phẫu bệnh, giai đoạn bệnh, kích thước u và số lần phẫu thuật ban đầu. Kết quả cho thấy kích thước u và giai đoạn bệnh là hai yếu tố quan trọng trong tiên lượng bệnh ở bệnh nhân. Ở những bệnh nhân bệnh giai đoạn khu trú tại chỗ (giai đoạn một, giai đoạn hai) có thời gian sống toàn bộ cao hơn so với giai đoạn bệnh lan tràn, cụ thể là 50,8 tháng so với 31,8 tháng. Ở những bệnh nhân có u nhỏ hơn 5cm thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 56,9 tháng, cao hơn so với nhóm có u lớn hơn 5cm có thời gian sống thêm toàn bộ là 30,6 tháng./.

Nghi Anh

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 399

Số lượt truy cập: 9285551

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang