Ngày 29/11/2018, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 7130/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ HIV, viêm gan B và giang mai lây truyền từ mẹ sang con giai đoạn 2018-2030.

Chỉ tiêu của kế hoạch đề ra cho giai đoạn 2018-2020 là giảm còn dưới 50 ca giang mai bẩm sinh trên 100.000 trẻ sinh sống; tỷ lệ phụ nữ đẻ được xét nghiệm sàng lọc giang mai trong thời kì mang thai trên 50%; tỉ lệ phụ nữ mang thai mắc giang mai được điều trị trên 50%.
Đối với giai đoạn 2021-2025, tỉ lệ phụ nữ đẻ được xét nghiệm sàng lọc giang mai trong thời kì mang thai trên 70%; tỉ lệ phụ nữ mang thai mắc giang mai được điều trị trên 70%.
Chúng ta biết rằng, bệnh giang mai là một trong số những bệnh lây truyền qua đường tình dục đáng sợ, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh. Bệnh giang mai là một bệnh nhiễm khuẩn do xoắn khuẩn Trepomena pallidum gây ra. Vi khuẩn giang mai xâm nhập trực tiếp vào cơ thể khi quan hệ tình dục không được bảo vệ, không an toàn qua đường âm đạo, hậu môn hay miệng, qua các vết xước trên da, niêm mạc khi tiếp xúc với dịch tiết từ tổn thương giang mai. Vi khuẩn giang mai lây truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ bào thai từ tháng 4 trở đi, xoắn khuẩn xâm nhập máu thai nhi qua dây rốn.
Xoắn khuẩn giang mai do 2 tác giả Schanchinn và Hauffman tìm ra vào năm 1905. Xoắn khuẩn có hình lò xo, 6-14 vòng xoắn; khi ra khỏi cơ thể nó sống được không quá vài giờ; ở nhiệt độ 45 độ C vi khuẩn chết sau 30 phút; các chất sát khuẩn, xà phòng có thể diệt xoắn khuẩn giang mai trong vài phút.
Bệnh giang mai xảy ra trong 3 thời kỳ, thời kỳ một sau thời gian ủ bệnh 3 tuần, xuất hiện triệu chứng săng và hạch. Săng giang mai thường gặp ở bộ phận sinh dục môi lớn, môi bé, mép âm hộ đối với nữ; gặp ở quy đầu, miệng sáo, bìu ở nam giới. Có thể gặp săng giang mai ở miệng, môi, lưỡi. Săng giang mai có kích thước 0,5-2 cm, giới hạn rõ và đều đặn, hình tròn hay bầu dục, cứng, bóp không đau. Hạch sẽ xuất hiện 5-6 ngày sau khi có săng, hạch vùng bẹn sưng to và thành chùm, trong đó có một hạch to nhất gọi là hạch chúa.
Ở thời kì 2, có thể sau 45 ngày khi có săng giang mai hoặc 2-3 năm sau. Các biểu hiện lâm sàng là các dát đỏ hồng rải rác ở thân mình, sẩn giang mai nhiều hình thái đa dạng, sẩn phì đại gặp ở hậu môn và sinh dục, viêm họng lan tỏa và bị rụng tóc kiểu rừng thưa. Các tổn thương da và niêm mạc khi lành thường không để lại sẹo.
Thời kì 3 xuất hiện từ 5, 10, 15 năm sau khi có săng. Lúc này xoắn khuẩn đã xâm nhập và khu trú vào phủ tạng, có tổn thương sâu ở da, xương, nội tạng, tim mạch và thần kinh. Giai đoạn này người bệnh ít có khả năng lây nhiễm cho gia đình. Điều đáng lưu ý, giữa thời kì 1 đến thời kì 2 , giữa thời kì 2 đến thời kì 3 có bệnh nhân không có các triệu chứng lâm sàng, đó là giang mai kín, chưa được phát hiện khi xét nghiệm huyết thanh. Bệnh lây truyền mạnh nhất là thời kì 1 và thời kì 2 khi các tổn thương da và niêm mạc chứa nhiều xoắn khuẩn giang mai; xoắn khuẩn giang mai xâm nhập qua da, niêm mạc của bộ phận sinh dục bị xây xát khi quan hệ tình dục. Bệnh giang mai có thể lây do tiêm chích chung bơm kim tiêm không khử khuẩn.
Để phòng chống bệnh giang mai cần có lối sống lành mạnh, chung thủy, thực hiện hành vi tình dục an toàn, sử dụng bao cao su đúng cách. Để phòng chống bệnh giang mai bẩm sinh phải phát hiện kịp thời và điều trị cho người mẹ nếu mắc bệnh giang mai trong khi mang thai. Có một lưu ý, bao cao su có thể phòng lây nhiễm bệnh giang mai, tuy nhiên đôi khi các vết loét lại xuất hiện ở những chỗ mà bao cao su không thể che hết, khi tiếp xúc với các vết loét đó có thể vẫn bị lây bệnh giang mai. Nữ giới khi mang thai nên làm xét nghiệm giang mai ngay từ đợt thăm khám thai đầu tiên; điều trị ngay nếu kết quả xét nghiệm dương tính.
Bạn tình mắc bệnh giang mai có thể không có triệu chứng rõ ràng, vết loét giang mai có thể ẩn trong âm đạo, hậu môn, dưới bao quy đầu dương vật hay trong miệng. Do vậy khám điều trị bệnh giang mai nên kiểm tra khám điều trị cả bạn tình để phòng bị mắc bệnh lại.
Tuy là bệnh nguy hiểm nhưng giang mai nếu được điều trị đúng tỉ lệ khỏi bệnh là rất tốt, vấn đề là phải được phát hiện sớm và điều trị đúng hướng dẫn của cán bộ y tế.
Hoa Đăng