
Bệnh do ký sinh trùng sán lá gan lớn (Fascioliasis) là một bệnh do ký sinh trùng lây truyền từ động vật truyền sang người. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2015, bệnh sán lá gan lớn ở người có mặt tại ít nhất 75 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là các nước đang phát triển với tổng số 50 triệu người nhiễm và 180 triệu người có nguy cơ nhiễm bệnh.
Bệnh sán lá gan lớn (SLGL) gặp nhiều ở các quốc gia Nam Mỹ, châu Á trong đó có Việt Nam. Hiện nay, bệnh SLGL ở người có tại 50/63 tỉnh, thành phố trên cả nước, đặc biệt bao phủ ở tất cả 15/15 tỉnh, thành phố của khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Tỉnh Khánh Hòa là một trong những tỉnh,thành phố có lưu hành bệnh SLGL.Trong gần hai năm qua, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng và Côn trùng Quy nhơn và nhiều bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố tại miền Trung-Tây Nguyên đã ghi nhận hàng nghìn trường hợp bệnh sán lá gan lớn.
Theo Bs Trần Anh Dũng-giám đốc Trung tâm phòng chống bệnh sốt rét-ký sinh trùng và côn trùng tỉnh, sau khi trứng từ phân của người nhiễm SLGL hoặc từ động vật vật chủ chính rơi xuống nước, nở ra ấu trùng và ký sinh trong cơ thể ốc, phát triển thành ấu trùng có đuôi rời khỏi ốc và bám vào các loài rau mọc dưới nước (thủy sinh) tạo các nang trùng bơi tự do trong nước. Người hoặc trâu, bò ăn phải thực vật thủy sinh hoặc uống nước lã có nhiễm ấu trùng bị nhiễm sán lá gan lớn sẽ bị nhiễm loại ký sinh trùng này.
Ấu trùng SLGL khi vào dạ dày, xuống tá tràng, tự thoát nang, đi xuyên qua thành tá tràng vào khoang phúc mạc đến bao gan , xâm nhập vào nhu mô gan gây tổn thương gan và có thể đường mật cũng bị liên đới tùy theo giai đoạn cấp hoặc mạn tính. Sán có thể xâm nhập trong hệ đường mật gây một số biến chứng nghiêm trọng, sán trưởng thành có thể ký sinh và gây bệnh sau nhiều năm và có thể tồn tại trên cơ thể người gần 10 năm. Vì vậy, nếu ăn các loại gan bò, trâu, cừu chưa nấu chín cũng có thể bị nhiễm sán lá gan lớn.
Nhìn chung, bệnh SLGL được xem là một bệnh điển hình về một loại ký sinh trùng truyền từ động vật sang người đang nổi hoặc tái nổi trên thế giới. Bệnh có yếu tố liên quan đến thay đổi môi trường cũng như thói quen ăn uống thay đổi của con người. Mặc dù, nhiều bệnh ký sinh trùng lây truyền qua đường thực phẩm có thể được kiểm soát, nhưng bệnh SLGL vẫn đang là vấn đề y tế công cộng Theo dự đoán,bệnh sẽ tăng nhiều trường hợp mắc bệnh hơn trên người, gây ra tổn thất cho kinh tế và sức khỏe con người.

Bs Dũng cho biết, nhiễm sán lá gan lớn tự nhiên do ăn phải nang trùng trên các lá xanh chưa rửa sạch và nấu chưa chín. Sau khi ăn bằng đường miệng, ấu trùng thoát kén và đi xuyên qua thành ruột vào trong khoang phúc mạc và tìm đường đến gan đến đường mật, ở đó chúng định vị và phát triển thành sán trưởng thành. Bệnh sán lá gan lớn là bệnh lây truyền từ động vật sang người do ký sinh trùng là sán lá gan lớn Fasciola spp. gây nên. Sán lá gan lớn có hai loại gồm Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Hai loại này gây bệnh chủ yếu ở các loài động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu… và có khả năng gây bệnh cho con người. Số trường hợp mắc bệnh sán lá gan lớn đã tăng lên đáng kể trong 10 năm qua. Hiện nay, sán lá gan lớn không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng kinh tế chăn nuôi và sức khỏe vật nuôi, mà còn tác động sức khỏe con người, nhất là trên hệ gan mật.
SLGL là bệnh tác động đến nhu mô gan và hệ đường mật, nên một số ca điều trị muộn hoặc phát hiện không kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng. Các biến chứng tùy thuộc vào thời gian từ khi mắc bệnh đến khi đi khám và được phát hiện, chẩn đoán và quản lý ca bệnh tốt hay không, khối thương tổn trong nhu mô có kích thước lớn hay nhỏ, tổn thương có kèm theo nhiều hay ít ổ hoại tử, nhiễm sán lá gan ở nhóm đặc biệt như trẻ em, phụ nữ mang thai và người có bệnh lý nặng đang điều trị và có chế độ ăn đặc biệt. Biến chứng tại gan khi thương tổn có kích thước quá lớn, không điều trị kịp thời, dẫn đến vỡ dưới bao gan gây xuất huyết nặng và có thể vỡ ra ngoài ổ phúc mạc, áp xe gan lan tỏa và cuối cùng là cổ chướng, u hạt hoại tử, u hóa; Tại hệ đường mật có thể hình thái sỏi mật trên nền sán chết, viêm đường mật, viêm túi mật, viêm phúc mạc mật, xơ hóa, gây tắc mật do bản thân SLGL; xơ hóa đường mật; chảy máu đường mật, chảy máu động mạch liên quan với các vết loét ăn mòn do sán di chuyển, hoặc bởi xác chết của SLGL trong ống mật chủ.
Một trong những biến chứng nguy hiểm nữa là chảy máu, tụ máu dưới bao gan và chảy máu trong gan. Huyết khối có thể góp phần vàng da tắc mật, đau thượng vị và thiếu máu. Rất nhiều trường hợp chảy máu suốt thời gian tổn thương đường mật, có trường hợp chảy máu đường mật trong gan và cả trong túi mật phải mổ cấp cứu. Biến chứng chảy máu tiêu hóa do có sỏi đi kèm hoặc do sán làm tổn thương mạch máu, tăng áp lực từng đoạn của hệ đường mật. Nếu điều trị không kịp thời, sẽ gây tràn dịch màng tim do vỡ ổ gan và ảnh hưởng đến màng tim, gây khó thở hoặc tử vong.
Trường hợp đặc biệt SLGL gây hiện tượng lạc chỗ có thể gây biến chứng tại chỗ hoặc lan rộng đến các cơ quan khác, gây nên các hậu quả phức tạp hơn, hoặc viêm tụy do sán chui vào ống tụy, mờ mắt do ăn sâu vào nhãn cầu, viêm da dị ứng do di chuyển, tạo bóng nước ở cơ thành bụng, gây tắc mật, vàng da.

Bs Dũng lưu ý, có khoảng 20% số ca nhiễm sán lá gan lớn không có biểu hiện triệu chứng, số còn lại chủ yếu biểu hiện triệu chứng ở hệ tiêu hóa mà chủ yếu là cơ quan gan-mật tùy thuộc vào từng giai đoạn .Tỷ lệ điều trị khỏi sau điều trị bệnh lên từ 93-100%, không để lại di chứng, một số trường hợp có sẹo ở nhu mô gan sau điều trị nhiều năm, nhưng cũng dần dần được xóa mờ và phục hồi chức năng gan nhanh chóng. Chỉ một số nhỏ ca (< 1%) cần đến can thiệp phẩu thuật ngoại khoa mới giải quyết dứt điểm (ca bệnh có biến chứng, sán lá gan lớn lạc chỗ nguy hiểm, tràn dịch đa màng, đe dọa vỡ bao gan vì khối thương tổn quá lớn).
Một số yếu tố được xem là có khả năng làm gia tăng bệnh sán lá gan lớn đó là sự phơi nhiễm gần giữa người và các vật nuôi, nguồn nước sinh hoat ; sử dụng dụng cụ nấu ăn ô nhiễm ấu trùng từ các lò mổ gia súc nhiễm bệnh, nhập khẩu nguồn gia súc từ các quốc gia có bệnh lưu hành chưa đượckiểm soát. Ngoài ra, tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như ở Việt Nam làm thay đổi mô hình phát triển loài ốc trung gian truyền bệnh cũng làm gia tăng nhiễm sán lá gan lớn.
Người bị nhiễm bệnh SLGL còn do ăn sống các loại rau mọc dưới nước (rau ngổ, rau rút/nhút, rau cần, rau cải xoong, rau muống) hoặc uống nước lã có sẵn ấu trùng sán chưa nấu chín.
Các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh sán lá gan lớn thường không đặc hiệu, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển và vị trí ký sinh, cũng như số lượng ấu trùng xâm nhập vào cơ thể người. Một số người nhiễm sán lá gan lớn không có biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng và chỉ phát hiện tình cờ qua đợt khám sức khỏe định kỳ có siêu âm bung tổng quát phát hiện khối tổn thương trên hệ gan mật.
Một số người có thể có triệu chứng sớm hơn sau khi nhiễm ấu trùng, khi ấu trùng sán lá gan lớn xâm nhập vào khoang bụng và vào nhu mô gan. Các biểu hiện có thể xảy ra trong giai đoạn cấp tính bắt đầu sau 4-7 ngày sau khi nhiễm ký sinh trùng và kéo dài trong vài tuần sau đó. Bệnh nhân có thể có triệu chứng trong giai đoạn nhiễm trùng mạn tính khi ấu trùng ở trong đường mật. Nếu có các triệu chứng sẽ xuất hiện sau vài tháng đến vài năm kể từ khi bị SLGL do hậu quả của viêm đường mật.
Trong cả giai đoạn nhiễm trùng cấp tính và mạn tính, dấu hiệu triệu chứng thường gặp là sốt, mệt mỏi, suy nhược, đầy bụng, khó tiêu, đau bụng, hình ảnh giả viêm loét dạ dày ruột, vàng da, vàng mắt (trường hợp nặng). Các biểu hiện nặng có biến chứng như tắc mật, viêm tụy cấp, xuất huyết tiêu hóa, vỡ bao gan do khối máu tụ, tràn dịch đa màng. Ngoài ra, một người bị bệnh SLGL có thể gặp các dấu hiệu lâm sàng khác như đau khớp, ho, khò khè, khó thở, nổi ban dị ứng, ngứa…hoặc các triệu chứng biểu hiện sự tổn thương tổ chức nơi sán lá gan lớn ký sinh lạc chỗ như dưới da, trong cơ, lách, đại tràng, tinh hoàn, vú, đại tràng.Người có các dấu hiệu, triệu chứng đã nêu cần được khám, chẩn đoán bằng xét nghiệm máu, siêu âm bụng tổng quát và trên hệ gan mật , chụp cắt lớp vi tính.
Bs Dũng nhấn mạnh,bệnh SLGL là bệnh có thể điều trị được. Thuốc điều trị dùng đường uống, thường chỉ uống một liều duy nhất .Thuốc không dùng cho phụ nữ mang thai, hoặc đang cho con bú, có tiền sử dị ứng với thành phần của thuốc. Người bệnh được điều trị bệnh SLGL cần được tư vấn, khám và theo dõi tại cơ sở khám chữa bệnh, đánh giá kết quả điều trị sau 1 tháng, 3 tháng, hoặc 6 tháng.
Nhiễm SLGL liên quan đến thói quen và tập quán ăn uống của người dân, vì vậy phòng bệnh là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Để phòng tránh nhiễm SLGL, tất cả người dân cần thực hiện ăn chín uống chín, rửa sạch rau sống trước khi ăn, nhất là các loại rau mọc dưới nước (rau thủy sinh), không nên uống nước lã chưa đun sôi. Người nghi ngờ nhiễm SLGL phải đến cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Hiện nay chưa có vaccine dự phòng nhiễm SLGL ở người.
Bs Dũng khuyến nghị cần phải có sự phối kết hợp giữa ngành y tế và thú y trong việc điều tra, đánh giá và kiểm soát tình hình bệnh SLGL trên người và gia súc qua đó giảm gánh nặng bệnh tật chung và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Hồng Sơn