Thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu máu, thiếu sắt, thiếu vitamin A, thiếu kẽm…ở phụ nữ có thai là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam.
Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2014-2015, tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm, ở phụ nữ có thai vẫn ở mức cao có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là 32,8%, tỷ lệ thiếu sắt là 47% và thiếu kẽm là 80,3%. Bổ sung viên đa vi chất dinh dưỡng cho các đối tượng có nguy cơ thiếu vi chất đã được tổ chức y tế thế giới khuyến nghị ở những vùng có tình trạng khẩn cấp như thiên tai, bão, lũ, hạn hán…

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú là đối tượng dễ bị tổn thương nhất về dinh dưỡng. Được sự hỗ trợ của UNICEF, Viện Dinh dưỡng đã tham gia tiến hành bổ sung viên đa vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú ở những vùng bị hạn hán và có tình trạng nước mặn xâm nhập nặng với mục tiêu là phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú thông qua cung cấp miễn phí sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng kết hợp với truyền thông dinh dưỡng được thực hiện bởi mạng lưới của hệ thống y tế. Sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng được phân phối đến cấp xã thông qua sự tham gia cảu các nhân viên y tế tại địa phương.
Từ tháng 09/2016 đến tháng 5/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thúy Nga cùng cộng sự Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế thực hiện nghiên cứu báo cáo đề tài “Độ bao phủ sử dụng viên đa vi chất ở phụ nữ có thai, cho con bú tại 2 tỉnh Kon Tum và Cà Mau”. Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ phụ nữ có thai và phụ nữ đang cho con bú đang sinh sống tại 4 xã của Cà Mau và Kon Tum. Sản phẩm viên đa vi chất dinh dưỡng được sản xuất dưới dạng viên nén, có chứa 15 vitamin và khoáng chất thiết yếu, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị hàng ngày về vi chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú theo khuyến nghị của UNICEF và WHO cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong trường hợp khẩn cấp như thiên tai, bão, lũ, hạn hán.
Phương pháp chọn mẫu, chọn chủ đích tỉnh Kon Tum và Cà Mau là 2 tỉnh đã tham gia chương trình. Tại mỗi tỉnh, lập danh sách tất cả các xã, sau đó ngọn ngẫu nhiên mỗi tỉnh 2 xã tham gia vào nghiên cứu.
Chọn đối tượng tại các xã: Chọn toàn bộ phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú dưới 18 tháng trong xã tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cỡ mẫu cuối cùng là 672 phụ nữ có thai và cho con bú dưới 18 tháng tham gia nghiên cứu.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu, tiêu chuẩn đánh giá: sử dụng bộ câu hỏi được thiết sẵn để phỏng vấn thông tin của phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú. Phiếu phỏng vấn được thử nghiệm trước khi triển khai nhằm thu thập các thông tin liên quan đến tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế hộ gia đình.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đã có tổng cộng 672 phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú tham gia nghiên cứu thuộc 4 xã Tân Lộc, Rạch Chèo, Dakroong và Daktokan. Độ bao phủ của sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng được chia làm 4 mức thể hiện các mức độ tiếp cận với sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng khác nhau. Trong đó độ bao phủ thông tin thể hiện việc bà mẹ có nhận biết sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng hay không. Tiếp theo là độ bao phủ tiếp cận thể hiện việc bà mẹ đã từng sử dụng thử sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng bao giờ chưa? Thứ 3 là độ bao phủ Một phần thể hiện trong thời gian 1 tuần gần đây bà mẹ vẫn đang được sử dụng sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng. Cuối cùng là độ bao phủ. Hiệu quả thể hiện bà mẹ đã sử dụng sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng đúng với liều khuyến nghị (7 viên/tuần) trong tuần vừa qua, tỷ lệ các độ bao phủ đều cao tại cả 4 xã tham gia nghiên cứu trừ độ bao phủ Một phần nguyên nhân là do tỷ lệ các bà mẹ sử dụng đúng liều đa vi chất dinh dưỡng (7 viên/tuần) tức độ bao phủ. Hiệu quả chiếm đa số nên tỷ lệ các bà mẹ sử dụng 1-7 viên/tuần tức độ bao phủ Một phần còn lại là rất thấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ bao phủ Hiệu quả cao hơn rất nhiều so với bao phủ Một phần tuy nhiên vẫn thấp hơn độ bao phủ Thông tin. Điều này thể hiện việc sử dụng sản phẩm có hiệu quả (như liều khuyến nghị) trong một thời gian dài là không hề dễ dàng, nhưng các công tác tư vấn của cán bộ y tế, các công cụ cung cấp thông tin về đa vi chất dinh dưỡng như loa, đài, áp phích…đã có những tác động tích cực đến độ bao phủ Hiệu quả. Ngoài ra, việc dự án phát đa vi chất dinh dưỡng miễn phí cho các bà mẹ thay vì họ phải mua cũng có tác động không nhỏ đến độ bao phủ Hiệu quả này.
Tuy vậy, trong bối cảnh các nguyên cứu về độ bao phủ sử dụng sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng trong tình hình hỗ trợ dinh dưỡng khẩn cấp còn rất ít như hiện nay, trong khi đây cũng là chương trình hỗ trợ dinh dưỡng trong tình trạng khẩn cấp đầu tiên, lớn nhất triển khai trong 20 năm qua tại Việt Nam nên rất khó tìm được bất kỳ nghiên cứu nào tương tự để so sánh.
Phân tích về yếu tố liên quan đến độ bao phủ cuả sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng là khác nhau tại 4 xã của 2 tỉnh nghiên cứu, tuy vậy sự khác nhau này có thể được lý giải bởi sự khác nhau về trình độ học vấn của bà mẹ và mức kinh tế hộ gia đình giữa các xã. Chính vì vậy, không nên đưa sự khác nhau về địa phương vào như một yếu tố ảnh hưởng tói các mức độ bao phủ của sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng. Yếu tố ảnh hưởng quyết định tới tất cả các mức độ bao phủ của sản phẩm đa vi chất dinh dưỡng là việc bà mẹ có nhận được lời khuyên sử dụng sản phẩm từ cán bộ y tế hay không, đều này là phù hợp với nghiên cứu trước đó dù là bà mẹ phải mua sản phẩm thay vì được phát miễn phí hay không.
Văn Hanh