
Ngày 18/3/2015, tại Hội thảo “Nâng cao nhận thức về ung thư cổ tử cung tại Việt Nam”, GS.TS Nguyễn Viết Tiến- Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh “ung thư cổ tử cung đang là vấn đề nóng, căn bệnh này đã cướp đi tính mạng của nhiều phụ nữ Việt Nam. Hoạt động nâng cao nhận thức về căn bệnh ung thư nói chung và ung thư cổ tử cung nói riêng cho người dân là hết sức quan trọng”.
Ung thư cổ tử cung là một bệnh phổ biến trong các loại ung thư đối với phụ nữ trên toàn thế giới. Hàng năm, thế giới có khoảng nửa triệu phụ nữ mắc mới ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, mỗi ngày có 9 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung và ước tính cứ 100.000 phụ nữ, có 20 trường hợp mắc bệnh ung thư cổ tử cung và 11 trường hợp tử vong.
Độ tuổi mắc ung thư cổ tử cung thường gặp nhất là 40-50 tuổi, thủ phạm gây ra ung thư cổ tử cung là vi rút HPV (Human Papplloma virus). Vi rút HPV có nhiều dòng, hệ miễn dịch của phụ nữ chống lại tốt sự nhiễm của vi rút HPV, tuy nhiên có một số ít phụ nữ vi rút sống sót nhiều năm và gây ra ung thư. Một số yếu tố khác gây ra ung thư cổ tử cung là do di truyền, môi trường, hành vi lối sống góp phần phát sinh bệnh ung thư…Một số yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ung thư cổ tử cung là người có nhiều bạn tình, quan hệ tình dục sớm, người bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, người có hệ miễn dịch yếu, người nhiễm HIV/AIDS, người hút thuốc lá…
Những dấu hiệu để người bệnh đi khám phát hiện bệnh là rong huyết, xuất huyết âm đạo bất thường ở ngoài ngày kinh hoặc sau khi quan hệ tình dục thấy có vài giọt máu (hoặc chỉ vài vệt nhớt đỏ) dính quần lót. Rong huyết có nhiều nguyên nhân nhưng người bệnh nên đi khám sớm để tầm soát bệnh ung thư cổ tử cung, nơi để khám là bác sĩ phụ khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa ung bướu. Có nhiều người vì chủ quan, thấy vẫn khỏe mạnh, uống vài viên kháng sinh thấy “sạch sẽ” như thường nên để bệnh càng diễn tiến nặng hơn. Ở giai đoạn trễ, máu chảy ra ở bộ phận sinh dục ngoài sền sệt màu hồng hồng, huyết trắng trộn lẫn với máu, người bệnh thường đau nhức, khó chịu.
Để chẩn đoán bệnh, thường bác sĩ sẽ thực hiện sinh thiết, soi cổ tử cung, chẩn đoán giai đoạn của ung thư tại chỗ còn khu trú hay ăn lan đến phía trên âm đạo, thành chậu, hoặc các cơ quan xung quanh như bàng quang, trực tràng…Bác sĩ sẽ tùy theo giai đoạn của bệnh để có phương pháp điều trị phù hợp gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị. Kết quả rất tốt nếu người bệnh được điều trị sớm và điều trị đúng cách. Thường bệnh ung thư cổ tử cung giai đoạn I có đến 80-90% bệnh nhân khỏi bệnh sau 5 năm, giai đoạn II khoảng 70-80% khỏi bệnh.
Người khỏi bệnh được 5 năm mà không tái phát hoặc di căn thì cơ may khỏi bệnh là rất lớn. Để tầm soát bệnh ung thư cổ tử cung, phụ nữ trên 30 tuổi đã có quan hệ tình dục nên đến các cơ sở y tế làm xét nghiệm tế bào âm đạo (xét nghiệm PAP). Nếu kết quả xét nghiệp PAP bất thường, bác sĩ sẽ làm thêm xét nghiệm soi cổ tử cung và sinh thiết. Mỗi năm người phụ nữ nên làm xét nghiệm PAP một lần, người mà đã có ba năm liên tục xét nghiệm PAP bình thường thì có thể làm xét nghiệm PAP thưa hơn 2-3 năm/ lần. Những ai có điều kiện nên tiêm vắc xin ngừa HPV, vắc xin có hiệu quả nhất nếu dùng cho các thiếu nữ trước khi bắt đầu quan hệ tình dục. Cũng lưu ý không phải ai đã tiêm vắc xin là 100% không mắc ung thư cổ tử cung vì HPV có một số týp chưa có vắc xin. Vì vậy, dù đã có tiêm vắc xin đủ liều người phụ nữ nên vẫn phải khám phụ khoa định kỳ và xét nghiệm PAP tầm soát, rà tìm ung thư cổ tử cung.
Anh Duy