Theo báo cáo nghiên cứu hoạt động tim mạch can thiệp tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa từ 02/2009 đến 02/2014 của Tiến sĩ Huỳnh Văn Thưởng, trong tổng số 3.702 lượt thực hiện tim mạch can thiệp, độ tuổi 60 - 69 chiếm tỷ lệ 18%; độ tuổi 70 - 79 chiếm tỷ lệ 17,6%; độ tuổi 50 - 59 chiếm tỷ lệ 15,8%; độ tuổi ≤ 49 tuổi chiếm tỷ lệ 10%.
Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, bình quân mỗi năm số lần khám tim mạch khoảng 40.000 lần. Có trường hợp trong năm 2014, bệnh nhân nữ 65 tuổi ở Thị xã Ninh Hòa, vào viện do chấn thương cột sống cổ, khi kiểm tra các xét nghiệm trước khi phẫu thuật phát hiện bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim rất nặng có thể gây biến chứng đột quỵ, tử vong. Do vậy bệnh nhân buộc tạm ngừng phẫu thuật cột sống để ưu tiên điều trị bệnh tim. Nhiều trường hợp người bệnh không biết mình đang mắc bệnh tim mạch, đó là sự nguy hiểm của bệnh tim mạch.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa người cao tuổi (NCT) là từ 60 tuổi trở lên. Bệnh tim mạch thường gặp nhất và cũng là nguyên nhân tử vong cao nhất ở NCT. Tần suất bệnh tăng huyết áp chiếm 60% ở người ≥ 65 tuổi. Bệnh động mạch vành ở người cao tuổi thường nặng. Thực tế hiện nay bệnh động mạch vành có thể xảy ra ở những người còn rất trẻ và khỏe mạnh. Trái tim chúng ta giống như một máy bơm, làm việc 24/24 giờ bơm máu đi cung cấp cho toàn bộ cơ thể. Để cơ tim hoạt động được, cơ tim được cung cấp đủ máu giàu oxy. Máu được cung cấp cho cơ tim qua hệ thống động mạch vành, xuất phát từ gốc động mạch chủ. Hệ động mạch vành gồm có động mạch vành trái và động mạch vành phải. Các động mạch này chia ra các nhánh nhỏ hơn tới nuôi từng vùng cơ tim. Như vậy khi một hoặc nhiều nhánh động mạch này bị tắt nghẽn một phần hay hoàn toàn (thường là do mảng xơ vữa) sẽ xuất hiện bệnh động mạch vành. Khi động mạch vành bị hẹp trên 50% khẩu kính của lòng mạch người bệnh sẽ xuất hiện cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực thường xảy ra khi người bệnh gắng sức và giảm đi khi người bệnh nghỉ ngơi, nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực ổn định. Trường hợp mảng xơ vữa trong động mạch vành bị nứt, vỡ ra thì cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện cả khi nghỉ ngơi, nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định.
Khi nghỉ ngơi, tim co bóp đều đặn với tần số khoảng 60 - 70 lần/phút. Tuy nhiên, khi chúng ta bị stress tâm lý, tức ngực, gắng sức, vội vã, sau ăn no, sốt, cường giáp, hạ đường huyết tần số tim sẽ gia tăng lên. Sự gia tăng nhu cầu oxy cơ tim là một yếu tố làm nặng dẫn đến sự xuất hiện cơn đau thắt ngực.
Hội chứng lâm sàng của cơn đau thắt ngực ổn định biểu hiện bằng cảm giác khó chịu ở ngực, hàm, vai, lưng hoặc cánh tay. Triệu chứng này gia tăng khi gắng sức hoặc stress tình cảm, biến mất khi ngậm Nitroglycerin. Khi đến bệnh viện, người bệnh sẽ được thực hiện các biện pháp cận lâm sàng như đo điện tâm đồ gắng sức, siêu âm tim, siêu âm tim gắng sức, xạ ký cơ tim gắng sức... giúp chẩn đoán xác định bệnh. Tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán cơn đau thắt ngực là chụp động mạch vành.
Một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán cơn đau thắt ngực ổn định là đặc điểm của cơn đau thắt ngực như tần suất, độ nặng, thời gian đau, giờ xuất hiện và yếu tố làm nặng. Có nhiều người bệnh không mô tả cảm giác đau mà mô tả theo cách khác ở ngực như đè nặng, bóp nghẹt, khó chịu, nóng bỏng, khó tiêu, xiết chặt, tức,... Bác sĩ cần hỏi về yếu tố làm xuất hiện cơn đau, vị trí, cách khởi đầu, thời gian đau và cách hết đau, vị trí lan của cơn đau.
Cơn đau thắt ngực thường xuất hiện ban ngày, lúc gắng sức, xúc động, đang ăn hay thời tiết lạnh; có khi xuất hiện vào đêm. Cơn đau thường kéo dài vài phút đến 10 hoặc 15 phút. Đau có thể lan tới cằm, chi trên, thượng vị, ra sau lưng, không bao giờ xuống tới rốn. Khi có cơn đau thắt ngực, mặt bệnh nhân thường tái và đứng yên, toát mồ hôi; mạch và huyết áp thường hơi tăng.
Đối với người cao tuổi, triệu chứng đau thắt ngực không điển hình, có thể chỉ là khó thở, đau bả vai hay sau lưng, cảm giác yếu mệt (thường ở phụ nữ) và khó chịu vùng thượng vị.
Mục tiêu chính của điều trị cơn đau thắt ngực ổn định là phòng ngừa nhồi máu cơ tim và tử vong, giảm triệu chứng cơ năng tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Có 5 vấn đề cần quan tâm khi điều trị người bệnh là xác định và điều trị các bệnh phối hợp có thể làm nặng cơn đau thắt ngực giảm yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành; sử dụng các biện pháp điều trị không dùng thuốc; thay đổi lối sống; điều trị nội khoa bằng thuốc; tái tưới máu cơ tim (tái tạo động mạch vành qua da hay mổ bắt cầu).
BS Tôn Thất Toàn