Rối loạn lipid máu là bệnh thường gặp hiện nay. Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia, tỷ lệ người Việt Nam có cholesterol máu cao gần 30%; ở thành thị 45% người có cholesterol máu cao; 63% người cao tuổi và 42% lứa tuổi trung niên có rối loạn lipid máu. Một nghiên cứu tại Hà Nội, nhóm tuổi 4 - 9 ở trẻ em bị thừa cân béo phì cho kết quả tăng cholesterol máu là 15%, tăng triglycerid là 30,7%, tăng LDL 12,6%, giảm HDL 5,3%.
Lipid máu (mỡ máu) gồm các thành phần cholesterol và triglycerid. Cơ thể có cholesterol và triglycerid từ nguồn thức ăn (mỡ) chúng ta ăn vào (chiếm 20%), cơ thể tự sản xuất ra cholesterol và triglycerid tại gan (chiếm 80%). Cholesterol tham gia cấu tạo nên màng tế bào, một số hormon giúp tiêu hóa các chất béo trong ruột, hấp thu tốt các vitamin A, D, E, K, kích thích sản sinh tế bào mới. Cơ thể không tồn tại nếu thiếu cholesterol. Còn triglycerid là nguồn năng lượng cho hoạt động chuyển hóa của cơ thể, là những khối mỡ nằm dưới da, bám vào nội tạng. Vì không tan trong nước, để di chuyển được trong máu, các lipid kết hợp với các protein gọi là lipoprotein. Có tất cả 6 loại lipoprotein, nhưng 2 loại quan trọng nhất là LDL-C (lipoprotein tỷ trọng thấp) và HDL-C (lipoprotein tỷ trọng cao). LDL-C là loại cholesterol có hại và HDL-C là loại cholesterol có ích cho cơ thể.
Có thể nói rối loạn lipid máu có nguy cơ tương đương với tăng huyết áp, là nguyên nhân hàng đầu của nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Khi nồng độ LDL-C trong máu cao sẽ gây tổn thương thành mạch máu, rối loạn quá trình vận mạch khởi phát, quá trình tạo mảng xơ vữa động mạch, làm mất đi tính mềm mại của thành động mạch. Còn HDL-C lại có nhiệm vụ thu dọn chuyên chở cholesterol dư thừa không cần thiết trở về gan để phân hủy và thải qua đường tiêu hóa. Vì vậy nồng độ HDL-C trong máu càng cao sẽ càng làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch.
Bình thường cholesterol có chỉ số toàn phần từ 3,9 - 5,2mmol/l; Triglycerid (TG) < 1,7mmol/l). Mỗi ngày, gan là cơ quan chịu trách nhiệm chính sản xuất cholesterol một lượng vừa đủ để thỏa mãn nhu cầu cơ thể; khi chúng ta ăn nhiều thức ăn có cholesterol, gan tự động giảm sản xuất để cân bằng. Một khi cơ thể không thể tự điều chỉnh được các thành phần cholesterol sẽ rối loạn, cao thấp bất thường và gây hại nhiều cho sức khỏe. Một vấn đề cần lưu ý đó là rối loạn lipid máu ít có triệu chứng rõ ràng, bệnh diễn tiến âm thầm, vì vậy đang trở thành mối đe dọa cả cộng đồng.
Ai dễ bị rối loại lipid máu
Những người bị thừa cân, béo phì, uống nhiều rượu, bia, ăn nhiều thức ăn có chứa chất béo sẽ làm tăng lượng triglycerid trong máu. Những người bị đái tháo đường, hội chứng thận hư, suy tuyến giáp, bệnh gan..., người trên 45 tuổi nên kiểm tra định kỳ lipid máu; người có những người ruột thịt trong gia đình bị bệnh mạch vành, tăng huyết áp, nghiện thuốc lá... tuổi còn trẻ cũng cần kiểm tra định kỳ lipid máu.
Để phòng bệnh rối loạn lipid máu cần thực hiện chế độ ăn giảm các chất béo bão hòa như thịt mỡ, bơ, phomat..., nên ăn các loại chất béo chưa bão hòa như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu vừng...; không ăn nhiều các thức ăn có cholesterol cao như lòng đỏ trứng, thịt có màu đỏ, gan, phủ tạng động vật; nên ăn cá nhiều hơn ăn thịt; giảm uống rượu, bia; ăn nhiều rau quả, các loại trái cây như táo, bưởi, cam, quýt, bắp cải, cải xanh, cà rốt, cà chua, đu đủ... Những người thừa cân, béo phì, người có tích tụ nhiều mỡ vùng bụng cần chú ý ăn uống kết hợp thêm tập luyện. Bữa ăn sáng cần được xem là bữa ăn cung cấp năng lượng chính trong ngày. Mọi người cần tránh lối sống tĩnh tại, tăng cường tập thể dục thường xuyên thời gian 30 phút/ngày. Tập thể dục đều đặn sẽ giúp ích cho việc giảm cân, phát triển khối cơ, xương, khớp, giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành, bệnh tăng huyết áp, ung thư đại tràng và đái tháo đường. Để là một người khỏe mạnh, chúng ta cần nhớ và thực hiện không hút thuốc, đi bộ 3km mỗi ngày hay 30 phút tập thể dục, huyết áp tối đa không được vượt quá 140mmHg, phòng tránh tăng cân, đái tháo đường và chỉ số LDL-C < 3mmol/l.
Chất béo nên ăn như thế nào?
Thừa cân, béo phì, rối loạn chuyển hóa mỡ ngày càng tăng trong cộng đồng, từ đó làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư... Bên cạnh các phương pháp điều trị đặc hiệu, điều chỉnh chế độ ăn vẫn luôn là nền tảng trong việc phòng và hỗ trợ điều trị bệnh lý này. Điều chỉnh chế độ ăn đúng sẽ giúp kiểm soát cân nặng, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ và kiểm soát huyết áp. Có nhiều nghiên cứu cho thấy việc thay đổi số lượng cũng như thành phần các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng trong khẩu phần ăn đều có ảnh hưởng đến việc làm tăng hay giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Chất béo no, chất béo dạng trans làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
Người béo bụng, nhất là có nhiều mỡ tạng có nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch. Người có chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 30kg/m2 có nguy cơ suy tim tăng gấp đôi so với người không béo phì. Mục tiêu của việc giảm cân là duy trì cân nặng ở mức BMI từ 18,5 - 24kg/m2. Người béo phì phải có kế hoạch giảm cân cộng với sự quyết tâm cao và thực hiện cùng với sự luyện tập. Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia, năng lượng trung bình cho người trưởng thành khoảng 2.000 - 2.200kcal đối với nữ, 2.200 - 2.400kcal đối với nam. Người béo phì cần ăn chế độ ăn giảm năng lượng từ 500 - 1.000kcal/ngày giúp làm giảm 0,5 - 1,0kg trong vòng 1 tuần. Nên giảm mức năng lượng nhập vào ở mức độ vừa phải nhằm giảm cân từ từ, cho đến khi đạt được mục tiêu và duy trì cân bằng năng lượng để duy trì cân nặng mong muốn. Nếu áp dụng một chế độ ăn kiêng quá mức như năng lượng < 800 - 1.000kcal/ngày kéo dài sẽ dẫn đến những rối loạn về mặt thể chất, gây mệt mỏi, giảm năng suất lao động; sau đó là khả năng tăng cân tái phát. Nguyên tắc quan trọng trong chế độ giảm năng lượng là tránh bỏ bữa ăn, thay vào đó là giảm đều năng lượng ăn vào trong các bữa ăn, có thể giảm nhiều năng lượng hơn cho bữa ăn chiều. Người béo phì cần được chuyên gia dinh dưỡng tư vấn để có phương thức điều trị dinh dưỡng phù hợp nhất.
Số lượng và loại chất béo đều quan trọng. Một gram chất béo cung cấp cho cơ thể 9kcal, trong khi 1 gram chất glucid hay đạm chỉ cung cấp 4kcal. Loại chất béo sử dụng quan trọng hơn tổng lượng chất béo. Axit béo no và cholesterol có nhiều trong mỡ, bơ, da heo, da gà, nội tạng là thành phần ảnh hưởng đáng kể nhất đến nồng độ cholesterol và LDL-C trong máu; đây là những yếu tố có nguy cơ gây ra rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành. Đồng thời axit béo thể trans có nhiều trong mỡ, sữa động vật ăn cỏ và thức ăn nhanh, quy trình công nghệ chế biến ở nhiệt độ cao làm tăng cholesterol toàn phần và LDL-C và giảm HDL-C dẫn đến nguy cơ mắc bệnh mạch vành và biến cố tim mạch. Theo các khuyến cáo gần đây, lượng axit béo no nên dưới 10% tổng năng lượng. Đối với người có tăng LDL-C hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch nên giảm lượng axit no dưới 7%, axit béo trans dưới 1% tổng năng lượng. Chất béo trong sữa nguyên kem, thịt đỏ làm ảnh hưởng đến cholesterol máu nhiều hơn ăn lòng đỏ trứng. Chế độ ăn mỗi ngày chúng ta nên ăn lượng cholesterol dưới 300mg/ngày đối với người bình thường và dưới 200mg/ngày đối với người có tăng LDL-C hay người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Những người mắc bệnh mạch vành, nhất là có kèm rối loạn chuyển hóa mỡ, cần tránh những thức ăn như da heo, da gà, mỡ heo, mỡ bò, nội tạng vì các thực phẩm này chứa rất nhiều axit béo no và cholesterol; hoặc thay đổi thói quen, sở thích ăn thức ăn nhanh sang những thức ăn chế biến tại nhà chỉ dùng thịt nạt, bỏ da và mỡ.
Ngược lại axit béo không no như omega 3; omega 6 (PUFA) giúp làm giảm nguy cơ này. Thay thế axit béo no bằng axit béo không no có tác dụng làm giảm tổng hợp cholesterol và LDL-C. Bất cứ loại cá nào cũng có omega 3, đặc biệt là những loại cá có mỡ. Loại axit béo đơn không no (MUFA) cũng là loại tốt cho sức khỏe. MUFA có trong dầu ôliu; các thực phẩm cung cấp axit béo không no tốt là trái bơ, các loại hạt hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ cười (pistachios), hạt bí đỏ, hạt hướng dương, hạt điều... Các loại axit béo đơn không no (MUFA) có thể sử dụng linh hoạt trong chế độ ăn vì chúng có thể thay thế axit béo no, glucid hoặc cung cấp năng lượng thay thế cho cả hai. Chế độ ăn nhiều MUFA sẽ làm giảm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và hạn chế sự giảm HDL-C. Chế độ ăn nhiều axit béo không no (PUFA) có thể làm giảm cholesterol máu đến 20%; giảm tỷ lệ mắc bệnh xơ vữa động mạch từ 15 - 35%. Omega 3 từ cá có tác dụng làm giảm cholesterol, triglycerid, giúp phòng ngừa chứng huyết khối và điều chỉnh được phần nào tăng huyết áp ở thể nhẹ. Đồng thời, omega - 3 nguồn gốc từ thực vật có thể làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành đến 50%, vì vậy mỗi tuần nên có 3 - 5 lần ăn cá thay thế cho ăn thịt.
Theo tạp chí Havard Heart Letter Mỹ, năm 2014, Viện Tế bào gốc Havard đã nghiên cứu thành công một loại thuốc mới dạng tiêm có tên chất ức chế PCSK9. Cơ chế của thuốc là nhắm vào gen PCSK9 ở gan điều tiết cholesterol gây hại. Vì vậy, thuốc làm giảm cholesterol xuống một nửa, làm giảm nguy cơ đau tim từ 30-90% trong thời gian 10 năm. Thuốc đã được Cơ quan Quản lý Thực- Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt và đưa vào sử dụng trong năm 2015.
BS Tôn Thất Toàn