Tại Bệnh viện Phụ sản Đà Nẵng, trong thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 4/2018, tổng số phụ nữ đến khám vú đồng ý quét khối vú 3D tại Bệnh viện là 1.236 trường hợp. Trong đó có 912 phụ nữ được thực hiện siêu âm 2D trước khi thực hiện quét vú 3D. Kỹ thuật quét vú 3D được thực hiện bởi 1 kỹ thuật viên đã qua đào tạo chuẩn, kết quả hình ảnh được đọc bởi bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm trong chẩn đoán hình ảnh vú. Các tổn thương được phát hiện sẽ dựa vào sự phối hợp giữa hình ảnh 2D, 3D, siêu âm đàn hồi mô để phân loại theo hệ thống Bi-RADS. Đối với Bi-RADS 1,2 nhóm nghiên cứu tiếp tục theo dõi và hướng dẫn tái khám định kỳ. Tổn thương từ Bi-RADS 3 trở lên sẽ được bắt đầu tiến hành FNA, mổ sinh thiết để cho ra chẩn đoán cuối cùng.

BS. Như Quỳnh báo cáo, trong 1.236 đối tượng nghiên cứu được thực hiện quét khối vú 3D có độ tuổi trung bình là 37,7 (từ 24 đến 61 tuổi) trong đó 28,07% trường hợp có người thân là chị, em, mẹ, dì ruột bị ung thư vú hoặc buồng trứng. Bệnh nhân thường đến khám với lý do kiểm tra sức khỏe, còn lại phần lớn là triệu chứng đau tức, cương vú (29,04%). Qua đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra tổn thương vú ở 749/1236 (60,59%) bệnh nhân, không phát hiện ra tổn thương vú ở 487/1236 (39,41%) bệnh nhân còn lại.
Trong 749 tổn thương vú phát hiện được trên quét vú 3D thì có 19 tổn thương không được phát hiện trên siêu âm 2D trước đó. Các tổn thương bỏ sót hầu hết có kích thước rất nhỏ hoặc là nằm ở các vị trí khó khảo sát ở những phụ nữ có cỡ vú to. Điều này cũng được ghi nhận ở các nghiên cứu hiện tại khi cho rằng hệ thống ABVS khó bỏ sót tổn thương đặc biệt là những tổn thương gần ngoại vi hoặc kích thước nhỏ. Ngoài ra người ta không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng tổn thương được phát hiện trên hệ thống ABVS giữa hai người đọc, điều này chứng tỏ ABVS không phụ thuộc vào bác sĩ. Các tổn thương được đánh giá và phân loại theo hệ thống Bi-RADS, một số trường hợp tiếp tục được chụp nhũ ảnh, chọc FNA, mổ sinh thiết. Kết quả trong 749 tổn thương vú, có 736 tổn thương lành tính (nhân xơ vú, nang vú…) và 13 tổn thương ác tính.
Trong thời gian đầu ứng dụng hệ thống ABVS tích hợp đàn hồi mô ARFI, BS. Như Quỳnh nhận xét đây là một kỹ thuật không gây đau cho bệnh nhân, tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân trong quá trình thực hiện; Lần đầu tiên tổn thương vú được mô tả theo mặt cắt coronal, giúp có cái nhìn tổng thể tổn thương và mô vú xung quanh, đặc biệt là dấu hiệu co kéo trong các trường hợp ác tính; Hệ thống tự động thu nhận dữ liệu đã được quét một cách khách quan nên không phụ thuộc vào bác sĩ làm siêu âm. Với phần mềm Workstatino, tổn thương được đo đạc chính xác theo kích thước không gian 3 chiều, giúp bác sĩ lâm sàng có cái nhìn tổng quan về tổn thương. Dữ liệu được lưu lại phục vụ cho việc theo dõi, nghiên cứu và hội chẩn; Đặc biệt nhờ tích hợp với công nghệ đàn hồi mô ARFI hỗ trợ cho việc chẩn đoán phân biệt giữa tổn thương lành và ác tính thông qua phân biệt độ cứng mềm của mô, qua đó giúp cho việc sinh thiết đúng vị trí nghi ngờ.
Minh Tâm