Gần đây, các nghiên cứu cho thấy các bệnh răng miệng nói chung, bệnh viêm quanh răng nói riêng tăng lên do nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó có đái tháo đường, đái tháo đường được xem là yếu tố nguy cơ có sự tác động mạnh với sự phát sinh và phát triển của bệnh.

Từ tháng 4/2014 đến tháng 6/2014 nhóm tác giả Nguyễn Xuân Thực cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Sở Y tế Ninh Bình tiến hành nghiên cứu báo cáo đề tài “Kiến thức thái độ, thực hành phòng bệnh răng miệng của bệnh nhân đái tháo đường týp 2”. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, cỡ mẫu 385 người là những bệnh nhân đái tháo đường týp 2, theo tiêu chuẩn chẩn đoán của IDF 2005, được đăng ký quản lý, khám và điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chọn vào nghiên cứu, được chuyển sang phòng khám răng hàm mặt của khoa khám bệnh để phỏng vấn kiến thức- thái độ - thực hành phòng chống bệnh răng miệng.
Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, trong tổng số 385 đối tượng nghiên cứu, nam giới chiếm tỷ lệ 56,1%, nữ 43,9%, nhóm tuổi từ 60 trở xuống chiếm 75,6%, nhóm tuổi trên 60 chiếm 24,4%. Thời gian phát hiện đái tháo đường từ 5 năm trở xuống chiếm 50,9%, từ 6-10 năm chiếm 33,5%, trên 10 năm chiếm 15,6%.
Theo tác giả phân tích, mức độ hiểu biết của người bệnh đái tháo đường về sức khỏe răng miệng, đa số biết sức khỏe răng miệng kém sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân. Thực tế, mức độ đối tượng nghiên cứu hiểu biết cụ thể về các bệnh răng miệng, nguyên nhân bệnh lý cũng như mối liên quan giữa bệnh răng miệng và đái tháo đường là còn thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 66,5% đối tượng nghiên cứu biết về bệnh sâu răng, 54,8% biết nguyên nhân dẫn đến bệnh sâu răng.
Về thái độ phòng chống bệnh răng miệng, khi mắc bệnh răng miệng có 35% đối tượng nghiên cứu đi khám ngay khi có triệu chứng, 37% chỉ đi khám khi bệnh răng miệng đã ở mức độ nặng. Có 15,8% đối tượng nghiên cứu có bệnh răng miệng vẫn tự điều trị theo kinh nghiệm tại nhà bằng phương pháp dân gian. Đối với đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp làm nông, sinh sống ở nông thôn nhiều người ăn trầu, nhuộm răng, không chải răng vì vậy tình trạng bệnh răng miệng cao hơn, thái độ chăm sóc khám điều trị bệnh răng miệng cũng thấp hơn so với những nhóm khác. Có đến 90% đối tượng nghiên cứu chưa từng khám răng miệng trong vòng 1 năm.
Trong nghiên cứu, nguyên nhân đối tượng nghiên cứu không tìm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng do không biết mình có bệnh răng miệng, ngoài ra có lý do e ngại chi phí khám chữa răng miệng tốn kém, đi lại xa không thuận lợi, e ngại sự nhổ răng đau, sợ lây nhiễm thêm bệnh khác.

Tác giả nghiên cứu lưu ý, sự chăm sóc sức khỏe răng miệng là rất quan trọng đối với mỗi người, vệ sinh răng miệng hàng ngày bằng phương pháp phù hợp. Trong nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu sử dụng nhiều biện pháp vệ sinh răng miệng như chải răng, súc miệng, dùng khăn, vải, xác cau khô. Chải răng là công việc tưởng đơn giản nhưng hết sức cần thiết và quan trọng, muốn chải răng hiệu quả phải biết chọn bàn chải, lựa chọn kem chải và biết cách chải răng đúng phương pháp.
Kết quả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có chải răng hàng ngày là 92%, trong đó có 75% đối tượng chải răng theo ý thức tự nhận biết của cá nhân, chỉ có 16,4% đối tượng nghiên cứu chải răng theo hướng dẫn của cán bộ y tế về nha khoa, có 7,8% đối tượng nghiên cứu không chải răng mà chỉ dùng khăn vải, đây là nhóm có tuổi cao và khu vực nông thôn. Có 8,12% đối tượng có chải răng nhưng chỉ với nước lã, 2,3% đối tượng nghiên cứu chải răng với muối. Về hành vi súc miệng, súc miệng sau khi ăn có tỷ lệ 60% loại nước sử dụng xúc miệng là nước chín để nguội, nước muối, rất ít đối tượng nghiên cứu sử dụng dung dịch sát khuẩn.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Thực có nhận xét, đối tượng nghiên cứu phần lớn không hiểu kiến thức chăm sóc răng miệng cơ bản, điều kiện và sự quan tâm vệ sinh răng miệng kém, tỷ lệ chải răng không được hướng dẫn của cán bộ y tế đến 82%, chỉ dùng nước xúc miệng sau ăn có tỷ lệ 35,6%. Tác giả kiến nghị cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức vệ sinh răng miệng cho cộng đồng nói chung và cho người bệnh đái tháo đường nói riêng, sử dụng nhiều hình thức truyền thông, nhiều cách để đẩy mạnh việc giáo dục nha khoa, tăng cường tư vấn trực tiếp cho người bệnh đái tháo đường về sức khỏe răng miệng qua đó góp phần nâng cao chất lượng sống cho người bệnh đái tháo đường.
Nguyên Khải