[Đăng ngày: 14/08/2015]
Thuốc kháng vitamin K đã được tìm ra từ hơn 60 năm và đã được dùng để điều trị chống đông từ hơn 40 năm nay. Cơ chế tác dụng của thuốc kháng vitamin K là ức chế sự tổng hợp dạng có hoạt tính của các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K (gồm yếu tố II, VII, IX và X).
Chỉ định dùng thuốc kháng vitamin K gồm ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống trong bệnh van hai lá hậu thấp; ở bệnh nhân rung nhĩ, ngừa huyết khối van tim nhân tạo và phòng ngừa cấp hai thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc động mạch phổi). Hiện nay, INR được xem là xét nghiệm chuẩn để đánh giá mức độ chống đông bằng thuốc kháng vitamin K.
Trên thực tế, người bệnh phải được xét nghiệm định kỳ để theo dõi INR, qua đó điều chỉnh liều thuốc kháng vitamin K.
Thuốc kháng vitamin K có nhiều nhược điểm như khởi phát chậm, cách theo dõi điều trị phức tạp, khoảng trị liệu hẹp, tương tác với nhiều loại thức ăn và thuốc. Những thức ăn có chứa nhiều vitamin K gồm bắp cải, bông cải, cải xoăn, rau diếp, rau bina, gan bò, gan heo…
Y học phát triển đã đưa ra những nhóm thuốc mới khắc phục những nhược điểm của thuốc kháng vitamin K, đó là nhóm ức chế trực tiếp thrombin và nhóm ức chế trực tiếp Xa.
Trước hết, đối với nhóm thuốc ức chế trực tiếp thrombin có hai đường dùng là đường tiêm truyền và đường uống. Trong lâm sàng, thuốc dùng đường uống được sử dụng là dabigatran. Dabigatran có ưu điểm hơn so với thuốc kháng vitamin K, đó là khởi phát tác dụng sớm (0,5-2 giờ) sau khi uống; không tương tác với thức ăn, nguy cơ tương tác với thuốc khác giảm thiểu, sử dụng với liều cố định không cần theo dõi xét nghiệm đông máu.
Dabigantran được sử dụng trong các trường hợp phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ. Một chỉ định khác là Dabigatran được sử dụng phòng ngừa cấp một và cấp hai đối với thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Tại Việt Nam, thuốc được sử dụng trong các trường hợp phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay khớp gối và khớp háng.
Đối với nhóm thuốc ức chế trực tiếp Xa như thuốc rivaroxaban; apixaban được dùng với liều cố định và không phải theo dõi điều trị bằng xét nghiệm đông máu. Đối với Rivaroxaban được nghiên cứu sử dụng trong phòng ngừa và điều trị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch; phòng ngừa cấp một thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân điều trị nội khoa; một chỉ định khác của rivaroxaban là phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim. Tại Việt Nam, Rivaroxaban được sử dụng phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay khớp gối và khớp háng.
Hiện nay, các thuốc ức chế trực tiếp Xa đang được nghiên cứu phòng ngừa cấp hai đối với các biến cố thiếu máu cục bộ sau hội chứng mạch vành cấp. Thực tế thuốc kháng vitamin K hiện vẫn còn chỉ định không thể thay thế trong phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở người bệnh van hai lá và trong phòng ngừa huyết khối van tim nhân tạo.
Đối với các thuốc chống đông uống mới có những tính năng dược lý rất tốt, đang được lựa chọn ưu tiên đối với phòng ngừa cấp một đối với thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay khớp háng và khớp gối.
Một chỉ định khác là phòng ngừa cấp hai đối với thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch; phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim. Tuy nhiên, các thuốc này có nhược điểm là đắt tiền hơn nhiều so với thuốc kháng vitamin K.
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 112

Số lượt truy cập: 9359356

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang