
Tháng 2/2009, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã thành lập Đơn vị Tim mạch Can thiệp, và từ đây bắt đầu mở ra một chuyên ngành mũi nhọn tạo được nhiều thành công, đem lại niềm tin cho người bệnh.
Theo báo cáo của BS. Nguyễn Vĩnh Phương- Khoa Tim mạch Can thiệp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa- sau 6 năm triển khai, tính đến tháng 2/2015 đã có gần 3.600 lượt người bệnh được làm thủ thuật tại phòng thông tim. Trong đó, số lượt bệnh nhân chụp động mạch vành gần 2.000, can thiệp động mạch vành là 1.978, chụp động mạch ngoại vi 63, can thiệp động mạch ngoại vi 2, can thiệp tim bẩm sinh 199, đặt máy tạo nhịp 80 ca.
Các bác sĩ của Khoa Tim mạch Can thiệp của Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã sử dụng cả hai phương pháp đường vào khi can thiệp tim mạch, đó là đường vào động mạch quay và động mạch đùi. Đường vào động mạch quay là chủ yếu, chiếm tỷ lệ 86,2%. Thời gian đầu, phần lớn thủ thuật sử dụng đường vào là động mạch đùi phải (thống kê 6 tháng đầu tiên của đơn vị TMCT Khánh Hòa), sau 6 năm hoạt động các bác sĩ chuyển sang sử dụng đường vào động mạch quay cho cả chụp, can thiệp mạch vành thường quy cấp cứu. Đặc biệt, một số trường hợp bệnh nặng, co thắt động mạch quay, can thiệp sang thương tắc mạn tính, các bác sĩ đã chọn đường vào là động mạch đùi bên phải hoặc trái.
Đối với số lượt chụp và can thiệp mạch vành, có hơn 1.400 lượt bệnh nhân chụp mạch vành, 950 lượt bệnh nhân được chụp và can thiệp cùng lúc theo chương trình, hơn 700 trường hợp can thiệp cấp cứu, 311 trường hợp can thiệp thì hai. Tổng số chụp mạch vành là 3.109 và gần 2.000 đối với can thiệp. Nguyên nhân chủ yếu hẹn can thiệp thì hai do bệnh nhân chưa có đủ điều kiện kinh tế (nhiều sang thương), suy chức năng thận (GFR < 60ml/phút/1.73m2).
Theo thống kê, số bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 58%, bệnh nhân nữ chiếm 42%. Đối với độ tuổi, bệnh nhân mạch vành trẻ tuổi nhất là 28 tuổi và bệnh nhân cao tuổi nhất là 92 tuổi. Độ tuổi hay gặp nhất là từ 50-79 tuổi, so với năm những trước đây BS Phương cho rằng bệnh nhân mạch vành tại bệnh viện có xu hướng ngày càng trẻ hóa. Đây là điều cần lưu ý trong công tác quản lý y tế địa phương.
Đối với phân bố các yếu tố nguy cơ, yếu tố nguy cơ thường gặp nhất là hút thuốc lá (48%), tăng huyết áp (30,4%), sau đó là rối loạn chuyển hóa lipit và đái tháo đường (7,5%). Điều này có khác biệt so với các thống kê trong và ngoài nước, trong các thống kê đó đái tháo đường chiếm tỷ lê cao chỉ sau tăng huyết áp.
Đối với chỉ định chụp và can thiệp mạch vành phân bố nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân đau thắt ngực (ĐTN) ổn định (57%) kém đáp ứng với điều trị nội khoa. Kế đến nhóm bệnh nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp (27%). Các trường hợp đau ngực không điển hình (10%), kết quả chụp thường do cầu cơ ở nhánh liên thất trước.
Đối với kết quả chụp mạch vành: có 70,3% trường hợp có chỉ định can thiệp mạch vành; 4,8% trường hợp điều trị nội khoa chưa cần can thiệp; 3,9% trường hợp chụp có cầu cơ. Kết quả bình thường chiếm tỷ lệ 2,6% và quá chỉ định can thiệp là 18,4%.
Đối với kết quả chụp mạch vành ở nhóm làm nghiệm pháp gắng sức: tỷ lệ chụp mạch vành có tổn thương ở nhóm làm ECG gắng sức dương tính là 87,4%. Ngược lại, ở nhóm bệnh nhân có kết quả ECG gắng sức âm tính thì tỷ lệ này chỉ có 10,2%.
Đối với phân bố tổn thương theo các nhánh mạch vành: động mạch vành hay gặp tổn thương nhất là nhánh liên thất trước chiếm tỷ lệ 42,5%; nhánh mũ chiếm 26,8%; động mạch vành phải chiếm 26,2% và cuối cùng là thân chung động mạch vành trái chiếm 4,5%.
Đối với kỹ thuật can thiệp: kỹ thuật đặt stent theo phương pháp cổ điển được áp dụng cho 77,8% trường hợp. Đặt stent trực tiếp 14,9% trường hợp và 2,8% trường hợp can thiệp bằng bóng phủ thuốc.
Các bác sĩ đã tiến hành can thiệp một số tổn thương đặc biệt quan trọng như hẹp thân chung động mạch vành trái 55 ca, tổn thương khó tắc mạn tính CTO 243 ca và samg thương chia đôi 297 ca.
Hoạt động của phòng thông tim được duy trì liên tục 24/24 giờ mỗi ngày và tất cả các ngày trong tuần để giải quyết các ca cấp cứu và 5 ngày trong tuần đối với các ca chương trình.
Khoa Can thiệp tim mạch đã sử dụng nhiều cỡ stent với đường kính từ 2.25mm đến 4,0mm. Trong đó, stent với đường kính 2.75mm được dùng nhiều nhất.
Stent phủ thuốc được sử dụng nhiều hơn (81,4%) so với stent không phủ thuốc chống tái hẹp (18,6%). Đối với loại không phủ thuốc, Khoa Can thiệp Tim mạch của Bệnh viện Đa khoa tỉnh thường dùng stent có cấu trúc khung kim loại Cobalt Chromium.
Loại bóng được sử dụng: bóng áp lực cao chiếm tỷ lệ 29,6%; các loại bóng thường chiếm tỷ lệ 65,3%. Bóng phủ thuốc chiếm 5,1%, chủ yếu dùng cho các sang thương ở mạch máu nhỏ (<2,5mm), nhánh bên của sang thương chia đôi, tổn thương ở những nhánh mạch vành xoắn nhiều khó đưa stent tới vị trí cần đặt, can thiệp tái hẹp trong stent.
Đối với can thiệp tim bẩm sinh: từ năm 2010 đến nay, khoa Can thiệp Tim mạch bắt đầu triển khai một số kỹ thuật can thiệp bệnh tim bẩm sinh như còn ống động mạch 66 ca, thông liên nhĩ 48 ca, thông liên thất 24 ca và nong bóng hẹp van động mạch phổi 11 ca.
Qua 6 năm hoạt động đơn vị Tim mạch Can thiệp của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, tại Hội nghị khoa học trẻ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa mở rộng lần thứ 4 năm 2015, BS Nguyễn Vĩnh Phương chia sẻ là đã thu được những kết quả tương đối khả quan, mở rộng chẩn đoán và điều trị bệnh lý tim mạch bằng ống thông qua da. Trong thời gian tới, khoa cần thêm nhân lực và trang thiết bị hỗ trợ như siêu âm nội mạch (IVUS), bóng dội ngược động mạch chủ (IAPB), máy đo lưu lượng dự trữ động mạch vành (FFR)…để hỗ trợ cho những trường hợp khó, bệnh nặng. Đồng thời tiến hành tổng kết định kỳ hàng năm cũng như nghiên cứu và theo dõi trên những nhóm bệnh lớn hơn để đánh giá chính xác chất lượng chẩn đoán, điều trị cũng như rút ra những kinh nghiệm thực tiễn, qua đó nâng cao hiệu quả công tác điều trị chăm sóc chp bệnh nhân ngày càng tốt hơn.
Ngô Thanh