
Từ tháng 1/2014 đến tháng 11/2014, BSCKII. Phạm Enga đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu lâm sàng và nguyên nhân cao áp phổi ở trẻ sơ sinh tại khoa Nhi Bệnh viện Khánh Hòa”. Đề tài có hai mục tiêu là mô tả đặc điểm lâm sàng của trẻ bị cao áp phổi tại khoa Nhi Bệnh viện Khánh Hòa và tìm hiểu các nguyên nhân thường gặp ở trẻ bị cao áp phổi tại khoa Nhi Bệnh viện Khánh Hòa.
Tăng áp phổi sơ sinh là bệnh suy hô hấp có tỷ lệ tử vong rất cao ở thời kỳ chu sinh; tại Việt Nam ở các bệnh viện lớn như Viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2… các bác sĩ đã có rất nhiều kinh nghiệm cũng như đầy đủ các phương tiện để chẩn đoán và điều trị bệnh này. Khoa Nhi Bệnh viện Khánh Hòa, việc tiếp cận với bệnh cao áp phổi sơ sinh là còn rất mới, cán bộ y tế chưa có nhiều kinh nghiệm, trước thực trạng đó BS. Enga đã tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm giúp có thêm kinh nghiệm thực tiễn để các cán bộ khoa Nhi Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa có thêm hiểu biết thực tế lâm sàng về bệnh này.
Chúng ta biết rằng tăng áp phổi sơ sinh (TAPSS) là do phá vỡ sự chuyển tiếp tuần hoàn bình thường từ thai sang giai đoạn sơ sinh. Rối loạn đặc trưng bởi sự tăng liên tục sức đề kháng mạch máu phổi lúc sinh. Những bệnh nhân bị TAPSS nếu sống có nguy cơ bị các di chứng nặng như bệnh phổi mạn tính, tàn tật đối với thần kinh, tổn thương thính lực và tổn thương não. Sự tiến bộ trong sử dụng máy thở, điều trị bằng oxide nitric và oxy hóa màng ngoài cơ thể (ECMO) đã cứu nhiều bệnh nhân bị TAPSS được sống sót.
Tăng áp phổi tồn tại sơ sinh xảy ra với tỷ lệ 1 đến 2 trường hợp trên 1.000 trường hợp sinh ra sống và phổ biến nhất trong những trẻ sơ sinh đủ tháng và già tháng. Các yếu tố nguy cơ chu sinh được báo cáo có liên quan đến TAPSS bao gồm: dịch ối nhuộm phân su và những bệnh của mẹ như sốt, thiếu máu và bệnh phổi. Các kết quả nghiên cứu bệnh - chứng cho thấy các yếu tố nguy cơ của TAPSS đã chứng tỏ có sự kết hợp giữa TAPSS và một số yếu tố trước sinh bao gồm mẹ bị đái tháo đường, nhiễm trùng đường tiểu trong lúc mang thai, sử dụng thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs), aspirin và thuốc kháng viêm không steroid trong lúc mang thai. Mặc dù những cơ chế sinh bệnh học trước sinh vẫn còn chưa rõ ràng, có nhiều bệnh lý chu sinh và sơ sinh có liên quan đến TAPSS.
Theo BS. Enga cần phải nghĩ đến TAPSS khi đánh giá trẻ sơ sinh bị tím. Khám thực thể một bệnh nhân bị TAPSS nói chung thấy rõ ràng nhất bằng chứng của tím và bệnh nặng cùng với các dấu hiệu của bất kỳ các chẩn đoán kết hợp. Trong các trẻ bị TAPSS, khám tim có thể chú ý tim đập mạnh, tiếng tim thứ hai mạnh đơn độc hoặc tách đôi ít và/hoặc tiếng thổi tâm thu do hở van ba lá. Độ chênh ôxy hóa các giá trị khí máu đồng thời trước ống (chi trên phải hoặc đầu) và sau ống (chi dưới hoặc bụng) hoặc đo bão hòa ôxy qua da cho thấy có shunt huyết động phải - trái qua ống động mạch. Sự khác biệt 10% hoặc lớn hơn giá trị trước/sau ống khi không có bệnh tim cấu trúc gợi ý TAPSS. Một số nhỏ bệnh nhân bị TAPSS có shunt huyết động chỉ ở nang mức lỗ bầu dục. Tuy nhiên, không có shunt qua ống động mạch không loại trừ tăng áp phổi kết hợp với shunt huyết động phải - trái nhĩ đơn độc, vì một số nhỏ bệnh nhân bị TAPSS có shunt huyết động chỉ ở tầng lỗ bầu dục.
X quang ngực thường biểu hiện bình thường hoặc cho thấy bệnh nhu mô phổi kết hợp. Bóng tim tuyến ức thường bình thường; lưu lượng máu lên phổi bình thường hoặc giảm. Điện tâm đồ (ECG) thường thấy ưu thế thất phải, ít phổ biến hơn, ECG phát hiện thiếu máu cục bộ hoặc nhồi máu cơ tim.
Cần thực hiện siêu âm tim cho tất cả bệnh nhân nghi ngờ TAPSS để đánh giá shunt huyết động và chức năng thất cũng như loại trừ bệnh tim bẩm sinh có tím. Khám Doppler màu là kỹ thuật có ích để đánh giá sự hiện diện shunt trong tim hoặc ống động mạch; Các dấu chỉ điểm siêu âm tim là vách thất dẹt hoặc phồng về phía trái, gợi ý tăng áp phổi. Có thể ước lượng áp lực động mạch phổi bằng cách sử dụng Doppler liên tục để đo vận tốc dòng hở van ba lá nếu có.
Nghiên cứu của BS. Phạm Enga được thực hiện trên tất cả trẻ sơ sinh được chẩn đoán cao áp phổi sơ sinh dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng và siêu âm Doppler màu có Shunt P-T hoặc Shunt 2 chiều qua ống động mạch hoặc qua lỗ bầu dục, các bệnh nhi được chuyển vào hồi sức sơ sinh, khoa Nhi Bệnh viện Khánh Hòa từ ngày 01/01/2014 đến ngày 15/11/2014.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ nam (64%) nhiều hơn trẻ nữ, sinh mổ và sinh thường tương đương nhau, gặp ở trẻ đủ tháng, xuất hiện từ 2-3 ngày sau sinh. Các triệu chứng như tím luôn luôn có (100%), thở nhanh rất thường gặp (63%), SPO2 trước ống lớn hơn SPO2 sau ống thường gặp (63,6%), nhịp tim không thay đổi. Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 2,5 + 0,7 (ngày); luồng thông P-T chiếm đa số trường hợp (45,5%); áp lực động mạch phổi từ 41-70 mmHgchiếm đa số trường hợp (54,5%).
Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như cần tăng cường chăm sóc tiền sản để hạn chế một số nguyên nhân gây cao áp phổi sơ sinh như ngạt, hít phân su, nhiễm trùng trong bào thai. Chú ý phát hiện sớm bệnh lý cao áp phổi sơ sinh dựa vào một số triệu chứng thường gặp tím, thở nhanh, SPO2 trước ống động mạch > sau ống động mạch, siêu âm có luồng shunt P-T. Có thể tiên lượng nguy cơ tử vong dựa vào mức độ áp lực động mạch phổi và nguyên nhân bệnh.
Nguyễn Phương