[Đăng ngày: 09/01/2017]

Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ- Trẻ em  Bộ Y tế, 9 tháng đầu năm 2016 cả nước có hơn 1,1 triệu phụ nữ đẻ. Tỷ lệ quản lý thai chung toàn quốc đạt 97,1%; tỷ lệ phụ nữ đẻ khám thai 3 lần trở lên trong 3 thai kỳ trung bình toàn quốc đạt 89,8%, cao hơn so cùng kỳ năm 2015 (85,1%). Tỷ lệ này của Đông Nam Bộ tăng 10,6% so 9 tháng đầu năm 2015. Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên vẫn là các vùng có tỷ lệ phụ nữ được khám thai 3 lần trong 3 thời kỳ thấp nhất trong các vùng, với tỷ lệ tương ứng là 78,8% và 80,6%.

Đối với chăm sóc trong khi sinh, nhìn chung toàn quốc tỷ lệ đẻ tại cơ sở y tế đã tăng đều từ 94,5% (năm 2011) lên 96,7% (9 tháng đầu năm 2016). Trong 9 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ đẻ tại nhà vẫn còn cao tại các khu vực như Trung du và miền núi phía Bắc: 13,8%; Tây Nguyên là 13% (tập trung vào một số tỉnh như Điện Biên:48,1%; Lai Châu: 44,8%; Sơn La: 33,8%; Kon Tum: 27,9%). Đây cũng chính là những địa phương còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu trong sinh đẻ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (CSSKBMTE).

Trong 9 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ y tế được đào tạo đỡ của cả nước ước đạt 98,2%. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng hơn 19.500  bà mẹ đẻ không được nhân viên y tế đỡ trong toàn quốc, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên và một số huyện miền núi của các tỉnh Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung. Tỷ lệ cô đỡ thôn bản được đào tạo đang hoạt động còn rất thấp, chỉ chiếm chưa đến 30% so với nhu cầu cần có tại các thôn bản đặc biệt khó khăn.

Đối với chăm sóc sau sinh, tỷ lệ bà mẹ/trẻ sơ sinh được chăm sóc sau sinh trong toàn quốc 9 tháng đầu năm 2016 đạt 94,2%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2015 (90,8%).

Trong 9 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ chăm sóc sau sinh trong vòng tuần đầu tăng so với cùng kỳ năm 2015 (82,2% so với 81,7%). Theo báo cáo, các vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ thấp hơn so với trung bình toàn quốc.

Báo cáo nêu tỷ suất mắc tai biến sản khoa/1.000 ca đẻ 9 tháng đầu năm 2016 là 5,5/1.000 ca sinh. Theo thống kê hệ thống thẩm định tử vong mẹ, có 153 trường hợp tử vong mẹ, nguyên nhân trực tiếp có 73 trường hợp; nguyên nhân gián tiếp có 63 trường hợp; chưa rõ nguyên nhân 17 trường hợp. Trong số các nguyên nhân trực tiếp, băng huyết là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong mẹ (57,1%), tương đương với con số tử vong mẹ ở miền núi giai đoạn 2000-2001 và cao hơn một chút so với số liệu giai đoạn 2006-2007(49%) và số liệu thống kê năm 2014 ở vùng miền núi phía Bắc (48%); tiếp đến là các nguyên nhân tắc mạch ối (19,2%) và sản giật/ tiền sản giật (16,4%).

ThS. Nguyễn Đức Vinh- Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em nhấn mạnh, công tác cấp cứu sản khoa vẫn rất cần được chú trọng trong đào tạo, giám sát; trong đó phát hiện và xử trí băng huyết trong tai biến sản khoa là một nội dung rất quan trọng. Các Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản (CSSKSS) tỉnh, thành phố; các cơ sở chăm sóc sản khoa cũng cần chú trọng nâng cao nhận thức của người dân về quản lý thai và khám thai 3 lần trong 3 thai kỳ, dự phòng, phát hiện và xử trí sớm các tai biến băng huyết, tiền sản giật/ sản giật.

Phân tích theo địa điểm xảy ra tai biến cho thấy có tới 43,1% tai biến xảy ra tại nhà, và 45,1% số ca xảy ra tai biến tại bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh. Phân tích theo mô hình 3 chậm của WHO thì chậm 1 và chậm 3 vẫn chiếm tỷ lệ cao. Nguyên nhân tử vong do liên quan đến chậm 3 xuất hiện trong tổng số 64,3% số ca tử vong mẹ (chậm tiếp nhận điều trị đầy đủ và thích hợp). Điều này cho thấy chương trình truyền thông làm mẹ an toàn cần được chú trọng nhiều hơn, đặc biệt là việc nhận biết sớm các dấu hiệu nguy hiểm cho phụ nữ trước, trong và sau sinh; chất lượng chăm sóc sản khoa hiện tại cũng cần được quan tâm chú ý, đặc biệt là 1) năng lực khám, chẩn đoán, tiên lượng, xử trí còn yếu; 2) việc không tuân thủ quy trình khám, theo dõi, chăm sóc, điều trị dẫn đến không phát hiện được tai biến hoặc phát hiện muộn, xử trí không đúng. Vì vậy, việc tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cấp cứu sản khoa cũng như giám sát để đảm bảo cán bộ y tế tuân thủ đúng quy trình chuyên môn là một nhu cầu cấp thiết trong thời gian tới.

Báo cáo nhấn mạnh gần 50% tử vong mẹ xảy ra ở giai đoạn chuyển dạ và trong vòng 1 ngày sau đẻ. Đây là khoảng thời gian rất đáng lưu ý trong quá trình tiếp nhận và chăm sóc, cấp cứu sản phụ. Qua thẩm định lại các ca tử vong mẹ, một số trường hợp đã không theo dõi sát, không tuân thủ Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc, theo dõi trong giai đoạn chuyển dạ và ngay sau đẻ, do đó đã chậm phát hiện tai biến, xử trí không kịp thời.

Thực hiện khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 2015 Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em đã định hướng chuyển đổi thẩm định tử vong mẹ sang giám sát tử vong mẹ và đáp ứng với mục đích chú trọng kết quả đầu ra cũng như chất lượng kế hoạch đáp ứng của địa phương. Công tác đào tạo về thẩm định tử vong mẹ, giám sát hỗ trợ chuyên môn để nâng cao chất lượng thẩm định tử vong mẹ đã được thực hiện tại nhiều tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong mẹ được thẩm định (có biên bản) chỉ đạt 30,1% thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm 2015 (37,4%), thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2014 (56,1%).

Trong năm 2016, Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em đã tổ chức 03 hội thảo tại 3 miền cho toàn bộ các tỉnh, thành phố; trong đó có phân tích lại các hồ sơ tử vong mẹ, qua đó các tỉnh rút kinh nghiệm về quy trình thẩm định và quy trình chuyên môn. Đồng thời, tổ chức 03 lớp tập huấn cho 95 cán bộ y tế về quy trình giám sát đáp ứng tử vong mẹ và dự phòng tai biến sản khoa. Tuy nhiên, việc phản hồi cho tuyến dưới và theo dõi, giám sát việc thực hiện phản hồi vẫn chưa làm tốt, kể cả ở Trung ương và địa phương.

Thủy Tiên

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 146

Số lượt truy cập: 9368614

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang