
Từ tháng 5 đến tháng 9/2015, tác giả nghiên cứu Phạm Ngọc Đông, Lê Xuân Cung cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Trung ương đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Viêm lệ quản: Đặc điểm lâm sàng, tác nhân gây bệnh và kết quả điều trị”.
Theo phân tích của nhóm tác giả nghiên cứu, viêm lệ quản là bệnh ít gặp, chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng số bệnh nhân có bệnh lý lệ đạo. Tại Iceland, tỷ lệ mắc viêm lệ quản hàng năm là 0,16 ca/100.000 dân. Nếu tính theo tuổi thì tỷ lệ này là 0,59 ca/100.000 dân ở lứa tuổi 40-59 và là 1,37 ca/100.000 dân ở nhóm tuổi 60-79. Tại Khoa kết giác mạc, bệnh viện Mắt trung ương, một trong những cơ sở nhãn khoa lớn nhất của cả nước, mỗi năm chỉ phát hiện được khoảng gần 10 bệnh nhân viêm lệ quản. Bệnh chủ yếu xảy ra ở nữ lớn tuổi với độ tuổi trung bình là 64. Phụ nữ lớn tuổi bị viêm lệ quản được cho là do sự thay đổi về nội tiết, giảm tiết nước mắt nên giảm khả năng chống nhiễm khuẩn. Có tác giả cho rằng, sử dụng mỹ phẩm ở phụ nữ có thể là yếu tố thuận lợi gây ra viêm lệ quản. Kết quả nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân viêm lệ quản ở Bệnh viện Mắt Trung ương phù hợp với đặc điểm chung của các nghiên cứu khác.
Do viêm lệ quản là bệnh lý ít gặp nên làm cho bệnh thường bị bỏ qua, hoặc chẩn đoán nhầm với các bệnh lý khác, nhất là viêm kết mạc mạn tính. Hơn nữa, bệnh không có các triệu chứng đặc hiệu nên cũng càng khó chẩn đoán hơn. Hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu đều được chẩn đoán viêm kết mạc mạn tính hoặc viêm túi lệ. Chỉ có 6 bệnh nhân được chẩn đoán ngay từ đầu là viêm lệ quản. Viêm lệ quản còn có thể bị chẩn đoán nhầm thành viêm kết mạc, chắp, lẹo, viêm túi lệ. Vì vậy, càng làm cho việc điều trị chậm trễ hơn. Tuy nhiên, nếu lưu ý đến và thăm khám cẩn thận thì việc chẩn đoán viêm lệ quản cũng khá dễ dàng và được chẩn đoán ở hầu hết các trường hợp. Theo BS. Đông, triệu chứng viêm kết mạc góc trong, có chảy nước mắt là triệu chứng gặp ở hầu hết các mắt bị viêm lệ quản. Do vậy, khi có các biểu hiện này, cần phải nghĩ đến khả năng bệnh nhân bị viêm lệ quản để khám kỹ vùng lệ quản, tránh bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm. Lệ quản thường bị sưng phù, có chất tiết ở lỗ lệ. Bơm lệ quản trào ngược chỉ xảy ra ở một số ít bệnh nhân (11,8%), còn lại lệ quản bơm thoát tốt. Có thể vì vậy mà bệnh nhân không được chẩn đoán là có tổn thương ở lệ đạo ở những lần khám trước đó.
Phù ở lỗ lệ và có chất tiết ở lỗ lệ, kèm theo viêm kết mạc góc trong là những dấu hiệu gặp ở hơn 80% số bệnh nhân. Do có viêm kết mạc kèm theo nên các bác sĩ khám thường bỏ qua, chỉ chẩn đoán là viêm kết mạc và không để ý đến viêm lệ quản. Tỷ lệ sưng phù lỗ lệ khác nhau tùy theo từng tác giả, có thể từ 30% đến 100%. Hầu hết lệ quản dưới bị viêm và ít khi bị cả 2 lệ quản. Đây là nhận định chung của nhiều báo cáo.
Do bị bỏ qua hoặc bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khác nên thời gian từ khi có triệu chứng đến khi được chẩn đoán trong nghiên cứu này dài tới 16 tháng. Thời gian này khá dài, có thể từ 6 đến 18 tháng. Chẩn đoán muộn làm kéo dài thời gian bị bệnh, chậm điều trị và làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân.
Actinomyces, Norcadia, Streptococcus, Staphylococus, nấm là tác nhân thường gặp gây viêm lệ quản. Trong nghiên cứu của BS. Đông cùng cộng sự, tác nhân gây bệnh thường gặp nhất là Actinomyces. Tác nhân này gây sỏi trong lệ quản, vì vậy việc lấy hết sỏi ra khỏi lệ quản là một yếu tố quan trọng trong điều trị.
Viêm lệ quản có thể được điều trị nội khoa hoặc bằng phẫu thuật. Điều trị nội khoa bao gồm dùng kháng sinh, chống viêm tại mắt hoặc toàn thân, kết hợp với nong lỗ lệ và làm sạch lệ quản. Điều trị ngoại khoa bao gồm tạo hình lỗ lệ, nạo lệ quản hoặc mở lệ quản. Trong nghiên cứu này, bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh tra tại mắt Tobradex, hoặc các quinolon phối hợp với corticosteroid, kết hợp với nong rộng lỗ lệ và nặn lệ quản, đảm bảo lấy hết sỏi và các chất tiết trong lòng lệ quản. Với cách điều trị này, hầu hết các trường hợp đều khỏi, với thời gian điều trị trung bình là 4 tuần. Những mắt này đều được điều trị bằng kháng sinh, corticoid trước đó nhưng không nặn để loại trừ sỏi và chất tiết trong lòng lệ quản nên bệnh vẫn không khỏi. Chỉ có một mắt điều trị bảo tồn thất bại, sau đó phải nong rộng lệ quản, nạo lòng lệ quản và điều trị bằng Tobradex 5 lần/ngày. Viêm lệ quản khỏi hoàn toàn sau 10 tuần điều trị. Hai mắt sau khi điều trị bảo tồn, các triệu chứng giảm rõ rệt, chỉ còn chảy nước mắt ít nên bệnh nhân không đến khám lại. Do không có thông tin chính xác nên được coi là điều trị thất bại.
Phúc Nguyên