
Từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2015 BsCKII Nguyễn Văn Xáng cùng cộng sự Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành nghiên cứu tình hình dị tật bẩm sinh ở trẻ em từ 0-36 tháng tuổi tại thành phố Nha Trang, Cam Ranh và thị xã Ninh Hòa.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là đánh giá các giải pháp can thiệp đã thực hiện tại tỉnh Khánh Hòa. Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ hoặc người nuôi dưỡng đủ tư cách pháp nhân được bảo trợ đối tượng nghiên cứu; Cán bộ y tế phụ trách sản khoa và nhi khoa tại các đơn vị y tế công có khám sản/nhi trên địa bàn. Mỗi đơn vị 1-2 người (Đối với những đơn vị, có người phụ trách chung sản và nhi thì chọn 1 người; Lãnh đạo khoa Sản, Nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, cán bộ phụ trách liên quan vấn đề này của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trung tâm phục hồi chức năng, giáo dục trẻ em Khánh Hòa, Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, Bệnh viện đa khoa khu vực Cam Ranh, Trung tâm y tế Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Cam Ranh, Nha Trang, Diên Khánh, Vạn Ninh.
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 1496 mẹ của bé, 30 đại diện cơ sở y tế trong nhóm đối tượng nghiên cứu, phỏng vấn sâu 2 mẹ của bé bình thường, 2 mẹ của bé có dị tật bẩm sinh, 2 cán bộ y tế và 4 cán bộ y tế phụ trách liên quan ở bệnh viện đại diện thành phố và huyện trong tỉnh Khánh Hòa. Từ kết quả nghiên cứu, Bs Xáng đã đưa ra một số giải pháp cụ thể như sau:
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường chăm sóc sức khỏe trước và trong khi mang thai thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng truyền thông sức khỏe sinh sản, sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho cán bộ y tế ở các cơ sở y tế và cộng tác viên. Mục đích là để tăng tính thuyết phục người dân đến tham gia đầy đủ các buổi tuyên truyền, đồng thời tăng tính hiệu quả trong việc đưa những nội dung tuyên truyền như chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám thai định kỳ, tầm quan trọng của sàng lọc trước sinh và sơ sinh để những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ hiểu rõ và thực hiện đúng.
2. Duy trì các hoạt động tuyên truyền định kỳ và đẩy mạnh hơn nữa để các đối tượng là trẻ vị thành niên, phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, các cặp vợ chồng mới kết hôn, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ cũng như người thân trong gia đình đều nắm rõ kiến thức chăm sóc sức khỏe trước và trong khi mang thai. Nhiều nghiên cứu cho thấy, sức khỏe người phụ nữ trước khi mang thai ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con trẻ. Chính vì vậy, hiểu biết đúng về chăm sóc sức khỏe trước khi mang thai như tiêm ngừa Rubella, bổ sung acid folic trước khi mang thai…sẽ làm giảm đáng kể những nguy cơ mang thai dị tật bẩm sinh. Tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe trong thời kỳ thai nghén: thai nhi trong bụng mẹ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sức khỏe của người mẹ đang mang thai. Tiếp xúc với hóa chất độc hại, phóng xạ, mắc các bệnh như cúm, Rubella…ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành các cấu trúc của thai nhi. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng đối tượng cần thiết về tầm quan trọng của khám thai định kỳ, các mốc cần phải khám siêu âm thai, các xét nghiệm, tiêm ngừa giúp thai nhi được khỏe mạnh.
3. Tăng cường công tác tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng như tivi, báo đài, tuyên truyền qua hệ thống chính trị các cấp (mặt trận tổ quốc, các đoàn thể), tổ chức tư vấn trực tiếp tại cộng đồng để đưa nội dung tuyên truyền phù hợp đến từng người trong gia đình. Phát động và duy trì phong trào rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh và cải thiện môi trường sống tại cộng đồng; tăng cường các hoạt động tư vấn tiền hôn nhân, tiếp tục duy trì hình thức tuyên truyền bằng tờ rơi, tranh ảnh, xây dựng các pano, áp phích đẹp mắt thu hút sự chú ý của người dân về các nội dung liên quan đến sức khỏe sinh sản, mang thai an toàn, ý nghĩa của sàng lọc trước sinh và sơ sinh.
4. Tăng cường nguồn nhân lực
Hiện tại, số lượng cán bộ y tế về công tác tại các cơ sở y tế tuyến xã còn hạn chế, 1 cán bộ y tế thường đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ cùng lúc, như người phụ trách Sản và Nhi, bác sĩ lâm sàng kiêm luôn vai trò bác sĩ siêu âm. Do đó, cần có nhiều chính sách thu hút nhân tài về các cơ sở y tế tuyến huyện, xã. Đây là nguồn nhân lực y tế đông đảo và có điều kiện tiếp cận sớm nhất với trẻ. Thực tế trừ một số loại khuyết tật khó phát hiện như khuyết tật hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, tiết niệu…thì rất nhiều loại khuyết tật khác (đặc biệt khuyết tật cơ quan vận động như bàn chân khoèo, xơ hóa cơ ức đòn chũm…) đều có thể phát hiện được sớm ngay tại tuyến cơ sở. Sau khi trẻ được phát hiện và nghi ngờ có vấn đề thì những chẩn đoán lâm sàng về tình trạng khó khăn của trẻ, xác định lại thể loại và mức độ khuyết tật là những bước tiếp theo vô cùng quan trọng. Cần kết hợp các nhà chuyên môn về y tế, nhà tâm lý, giáo viên để có được sự chẩn đoán đầy đủ. Tích cực đào tạo, huấn luyện chuyên môn và chuyển giao kỹ thuật cho cán bộ y tế của các địa phương.
Bên cạnh đó không thể bỏ qua vai trò của các thành viên trong gia đình và cộng đồng nơi trẻ sinh sống. Gia đình là nền tảng cho sự phát triển của mọi thành viên trong đó có trẻ em. Các thành viên trong gia đình là thành phần tất yếu trong việc giáo dục trẻ em đặc biệt là trẻ khuyết tật. Không ai khác, chính cha mẹ và những người thân trong gia đình là những người hiểu rõ nhất và thương yêu trẻ nhiều nhất. Và cũng chính họ là những người mà trẻ tin cậy mong muốn cùng chia sẻ. Vì vậy gia đình sẽ là lực lượng chính góp phần trong công cuộc phát hiện sớm can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật.
Mai Trang