[Đăng ngày: 19/06/2018]
Trong chu kỳ vòng đời, giai đoạn từ 6-11 tuổi là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ dưới 5 tuổi sang trẻ tuổi vị thành niên. Trong giai đoạn này, trẻ thường có sự phát triển nhanh về thể chất và thay đổi về khả năng tư duy, nhận thức thế giới xung quanh. Môi trường học đường khác với môi trường gia đình trong đó trẻ dành nhiều thời gian học tập, vui chơi trên lớp tại nhà trường, nhiều trẻ được phục vụ bữa ăn bán trú. Môi trường học đường, vì thế tác động không nhỏ đến tình trạng dinh dưỡng, tâm lý của học sinh. 

Thực tế cho thấy, khuynh hướng mắc các bệnh thừa cân, béo phì trên trẻ học đường ngày càng gia tăng. Nếu không có sự quan tâm đúng mức và kịp thời về tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhất là đối với những trẻ bị thừa cân, béo phì sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho trẻ về sau khi trẻ trưởng thành.
Trong năm 2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quang Dũng cùng cộng sự Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả báo cáo đề tài “Thực trạng thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh 6-10 tuổi huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”. Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học 6-10 tuổi tại 3 trường tiểu học Liên Nghĩa, Thắng Lợi, Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tiêu chuẩn chọn đối tượng: trẻ không mắc bệnh mạn tính, cấp tính như sốt, cảm cúm, được bố mẹ đồng ý cho tham gia nghiên cứu. Thời gian thu thập số liệu: tháng 10-11 năm 2016.

Tác giả tiến hành lập danh sách đối tượng nghiên cứu có 2.152 trẻ; chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống chọn 750 trẻ tham gia nghiên cứu. Thu thập số liệu gồm:  Cân nặng học sinh được đo bằng cân Nhơn Hòa, độ chính xác 0,1 kg trong khi đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ giày dép, mũ, nón, các đồ vật trong người. Kết quả được đo bằng kg, với 1 số lẻ. Chiều cao được đo bằng thước gỗ 3 mảnh của UNICEF với độ chính xác 0,1cm trong khi đối tượng ở tư thế đứng, mắt nhìn thẳng phía trước, 2 tay chống 2 bên người, lưng tựa vào thước sao cho 2 gót chân, 2 bắp chân, 2 mông, 2 xương bả vai, chẩm đầu chạm vào thước đo. Kết quả được đo bằng cm với 1 số lẻ.

Tuổi thu thập thông tin ngày sinh của trẻ dựa vào hệ thống sổ sách của nhà trường, lấy ngày sinh dương lịch. Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày điều tra trừ đi ngày sinh và quy tuổi ra đơn vị tính là năm.
Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì: Đối với trẻ từ 5-19 tuổi, chỉ số Z-score BMI theo tuổi (BMI for age Z-score hay BAZ) được sử dụng để đánh giá thừa cân, béo phì. BAZ được tính bằng phần mềm WHO AnthroPlus dựa vào chuẩn tăng trưởng của WHO. Thừa cân được xác định khi BAZ > 1SD và < 2SD, béo phì được xác định khi BAZ > + 2SD.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, tổng số đối tượng nghiên cứu là 750 trẻ, trong đó có 365 trẻ trai (48,7%) và 385 trẻ gái (51,3%). Cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ tăng dần theo nhóm tuổi đối với cả 2 giới. Cân nặng trung bình của trẻ trai 6 tuổi là 21,6 + 5,3kg, tăng lên 31,3 + 7,9kg trẻ trai 10 tuổi; và 20,3 + 4,3kg ở trẻ gái 6 tuổi lên 25,5 + 6,8kg ở trẻ gái 10 tuổi. Chiều cao trung bình của trẻ trai 6 tuổi là 118,8 + 7,4cm, tăng lên 137,2 + 7,8 ở trẻ trai 10 tuổi. Chiều cao trung bình của trẻ gái 6 tuổi là 117,2 + 5,4, tăng lên 137,3 + 6,2cm ở trẻ gái 10 tuổi.

Ở trẻ trai, tỷ lệ thừa cân thấp nhất ở trẻ 6 tuổi: 7,2%, tăng dần lên tới 15,8% ở trẻ 8 tuổi, giảm xuống 12,5% ở trẻ 9 tuổi, nhưng lại cao tới 22,4% ở trẻ 10 tuổi. Ở trẻ gái, tỷ lệ thừa cân cao nhất ở trẻ 9 tuổi: 14,3%, sau đó ở trẻ 6 tuổi: 10,2%. Tỷ lệ thừa cân chung cho trẻ trai 6-10 tuổi là 14% và trẻ gái 6-10 tuổi là 7,8%.
Ở trẻ trai, tỷ lệ béo phì thấp nhất ở nhóm 7 tuổi: 5,1%, cao nhất ở nhóm 9 tuổi: 23,4%. Ở trẻ gái, tỷ lệ béo phì thấp nhất ở nhóm 10 tuổi: 2,2%, cao nhất ở nhóm 8 tuổi: 5,8%. Tỷ lệ béo phì chung cho trẻ trai 6-10 tuổi là 11,2% và trẻ gái 6-10 tuổi là 4%.

Tác giả nghiên cứu phân tích, tại Việt Nam số liệu giám sát dinh dưỡng được thu thập hàng năm trên trẻ dưới 5 tuổi, nên số liệu tình trạng dinh dưỡng của trẻ tiểu học hạn chế. Kết quả nổi bật trong nghiên cứu là ở trẻ trai, tỷ lệ thừa cân cao nhất ở nhóm 10 tuổi (22,4%), tỷ lệ béo phì cao nhất ở nhóm 9 tuổi (23,4%). Trong khi đó, tỷ lệ trẻ gái béo phì nhóm 9, 10 tuổi rất thấp, tương ứng là 3% và 2,2%. Rõ ràng là có sức khác biệt đáng kể về thừa cân, béo phì giữa 2 giới ở nhóm tuổi này. Điều đó gợi ý những can thiệp cần thiết cần được thực hiện để giúp giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh nam nhóm 9-10 tuổi. Trẻ có thói quen ăn thực phẩm xào/rán có nguy cơ béo phì cao gấp 3,74 lần so với trẻ có thói quen ăn thực phẩm nấu/luộc.

Thực phẩm nhiều chất béo thường cung cấp nhiều năng lượng, ngoài ra còn tăng cảm giác ngon miệng, nên trẻ có khuynh hướng ăn ngon, ăn thừa mà không biết, dẫn tới thừa năng lượng và tăng cân, béo phì. Vì vậy, với trẻ béo phì, cần hạn chế năng lượng ăn vào dưới dạng chất béo. Ngủ ít được xem là một yếu tố nguy cơ cao dẫn đến béo phì ở trẻ do mất ngủ kích thích cơ thể tăng tiết hormone Ghrelin và giảm lượng hormone Leptin từ đó gây nên cảm giác thèm ăn. Điều đó giải thích nguy cơ béo phì thường cao hơn ở trẻ ngủ ít hơn 8 tiếng so với trẻ ngủ nhiều hơn 8 tiếng.

Về lối sống tĩnh tại là một trong những yếu tố nguy cơ của béo phì; những trẻ dành nhiều thời gian xem tivi, chơi trò chơi điện tử có nguy cơ béo phì cao hơn những trẻ có lối sống hoạt động thể lực.
Tác giả nghiên cứu kết luận nghiên cứu tỷ lệ thừa cân cho 2 giới là 10,8%; tỷ lệ béo phì chung cho 2 giới là 7,5%; nguy cơ béo phì ở trẻ gái thấp hơn 64,8% so với trẻ trai; nguy cơ béo phì ở trẻ thích ăn đồ xào/rán cao gấp 3,74 lần so với trẻ thích ăn đồ nấu/luộc. Trẻ ngủ đêm dưới 8 tiếng có nguy cơ béo phì cao gấp 1,841 lần so với trẻ ngủ đêm nhiều hơn 8 tiếng. Trẻ xem tivi/chơi điện tử hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ béo phì cao gấp 2,577 lần so với trẻ xem tivi/chơi điện tử ít hơn 4 tiếng/ngày.
Tác giả đưa ra những khuyến nghị gồm: Tỷ lệ thừa cân, béo phì trên học sinh 6-10 tuổi tại một số trường tiểu học của huyện Văn Giang khá cao, đặc biệt ở trẻ trai 9 và 10 tuổi, vì vậy cần có giải pháp can thiệp thích hợp nhằm hạn chế tỷ lệ thừa cân, béo phì trên đối tượng này.
Để phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ tiểu học, cần truyền thông, giáo dục dinh dưỡng, lối sống hợp lý tập trung vào các yếu tố nguy cơ như thích ăn đồ xào/rán, ngủ đêm ít hơn 8 tiếng, xem tivi/chơi điện tử hơn 4 tiếng/ngày.
Tường Huân

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 142

Số lượt truy cập: 9296560

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang