
Theo kế hoạch hoạt động điều trị HIV/AIDS của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa, mục tiêu năm 2017 đặt ra là có 90% người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm của bản thân; 90% người nhiễm HIV (biết tình trạng nhiễm) đủ điều kiện điều trị theo hướng dẫn điều trị quốc gia ARV; 90% người nhiễm HIV điều trị ARV với tải lượng virut dưới ngưỡng lây truyền. Mục tiêu cụ thể đặt ra có 830 người nhiễm HIV được điều trị ARV; trong đó 80% số bệnh nhân HIV/AIDS được xét nghiệm tải lượng HIV theo dõi điều trị ARV.
Chúng ta biết rằng, tăng cường xét nghiệm tải lượng virut được xem như một xét nghiệm thường quy, nhờ đó hệ thống hóa việc đánh giá và hỗ trợ người bệnh tuân thủ điều trị; từ đó đơn giản hóa phác đồ điều trị HIV/AIDS đến bệnh nhân. Theo TS Lê Trường Giang – Chủ tịch Hội Y tế công cộng TP Hồ Chí Minh, dữ liệu về tỷ lệ ức chế tải lượng HIV ở người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV và các yếu tố tương quan ức chế tải lượng virut HIV ở Việt Nam còn hạn chế.
TS.Giang cùng cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang đối với 1255 bệnh nhân điều trị ARV trên một năm ở TP Hồ Chí Minh, tỉnh An Giang, Quảng Ninh và Điện Biên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 93% người tham gia nghiên cứu điều trị ARV trên một năm có ức chế tải lượng HIV dưới 1000 bản sao/ml. Qua phân tích đa biến, những trường hợp không ức chế tải lượng virut tương quan độc lập với CD4 thấp. Bệnh nhân tham gia nghiên cứu vẫn có tỷ lệ không sử dụng thuốc một viên một ngày, trễ hẹn nhiều lần trong năm qua và thất bại miễn dịch (p<0.001).
Một nghiên cứu khác của tác giả Dương Minh Hải vào năm 2015 khảo sát tải lượng virut HIV-1 trên bệnh nhân điều trị ARV từ 12 tháng trở lên tại 2 phòng khám ngoại trú người lớn tại TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu có sự tham gia của 518 bệnh nhân đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Quận 1 và huyện Bình Chánh TP Hồ Chí Minh. Theo tác giả nghiên cứu việc chỉ định điều trị ARV sớm khi kết quả xét nghiệm CD4 dưới 200 cho đến nhỏ hơn 350 thì hiệu quả điều trị gia tăng khả quan. Tỷ lệ đo tải lượng virut dưới ngưỡng nhỏ hơn 70% năm 2009 tăng lên 86% vào năm 2015.

Theo tác giả Dương Minh Hải, việc đo tải lượng virut thường qui 12 tháng mang lại lợi ích đáng kể, giúp cho đánh giá thực hiện mục tiêu thứ ba trong chiến lược 90-90-90; Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phát hiện sớm thất bại điều trị chiếm tỷ lệ 9%; hơn 50% các trường hợp có kết quả đo tải lượng virut trên ngưỡng; sự thay đổi phác đồ điều trị kịp thời đã giúp nâng cao chất lượng điều trị và giúp giảm sự lan truyền của kháng thuốc trong cộng đồng. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần có thêm nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân đối với các trường hợp có kết quả đo tải lượng virut dưới ngưỡng nhưng thất bại miễn dịch.
Theo TS Lê Tường Giang, trong nghiên cứu của tác giả cùng cộng sự trên 904 bệnh nhân điều trị ARV có 60% đối tượng nghiên cứu có xét nghiệm CD4 >350 tế bào/ml có tải lượng virut >10.000 bản sao/ml; 16% có tải lượng virut >100.000 bản sao/ml. Đối với những bệnh nhân có mức CD4 351-500 bản sao/ml mối tương quan giữa tải lượng virut và CD4 không rõ. Tác giả nghiên cứu cho biết kết quả nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan giữa tải lượng virut thấp ở những bệnh nhân có đồng nhiễm viêm gan virut C, nhưng có tương quan đối với những bệnh nhân có đồng nhiễm HIV và viêm gan virut B nhất là ở những người có quan hệ tình dục đồng giới nam. Theo TS Giang cần quan tâm đến chiến lược điều trị dự phòng mở rộng điều trị bệnh nhân HIV/AIDS đối với ARV dựa trên kết quả xét nghiệm đo tải lượng virut cao để từ đó giảm được nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng.
Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Quốc Tuấn cùng cộng sự Bệnh viện 09 Hà Nội, là nghiên cứu cắt ngang trên 514 bệnh nhân điều trị ARV tại Bệnh viện 09 được đo tải lượng virut HIV, trong đó có 215 bệnh nhân được đo tải lượng HIV trước điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tải lượng HIV trước điều trị trên ngưỡng phát hiện là 94,2% với tải lượng HIV trung bình trước điều trị là 998.193 bản sao/ml. Sau 6 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh nhân có tải lượng HIV ở dưới ngưỡng phát hiện tăng đều và ổn định. Sau điều trị 12 tháng tải lượng HIV là 72%; sau 2 năm điều trị là 87,6%; sau 3 năm điều trị là 94%; sau 5 năm điều trị là 96%; Có 48,2% đối tượng nghiên cứu có tải lượng HIV >1000 bản sao/ml được tư vấn hỗ trợ tuân thủ điều trị và kết quả điều trị hạ tải lượng virut <1000, duy trì điều trị phác đồ bậc 1.
Nghi Anh